Thứ Bảy, 16 tháng 12, 2017

1046. Chữ quốc ngữ và ‘Thoát Hán’ (Sưu tầm và lời bình)

SỞ DĨ CÁI XẤU HOÀNH HÀNH CHỦ YẾU LÀ BỞI VÌ NGƯỜI TỐT KHÔNG HÀNH ĐỘNG ĐỂ CHỐNG LẠI NÓ!
---------
Kết quả hình ảnh cho Chữ Quốc ngữ
Mặc dù chưa liệt kê các sáng tạo của người Việt, chẳng hạn như ‘Trận Bạch Đằng’ (‘Binh thư yếu lược’), ‘Truyện Kiều’ (thơ), ‘thơ Hồ Xuân Hương, Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng’, ‘Chí Phèo’, ‘nhạc Trịnh’, ‘Bổ đề Lie’* (Ngô Bảo Châu)… - không có cái gì là thua Tàu cả!, nhưng tôi cho rằng ‘Chữ Quốc ngữ’ là một trong những sáng tạo vĩ đại nhất của ‘người Việt’, bằng chứng là nó được đánh giá là ‘một trong 25 ngôn ngữ có tính sáng tạo nhất trên thế giới’! (Hình nền). 
Nhân tiện, tôi rất khó đánh giá cái gì là ‘nhất’!, vì nếu nhất thì phải nhất so với cái gì?, trong phạm vi nào?…, nếu không, ta sẽ bị rơi vào việc ‘bỏ quên logic’ hay ‘đánh tráo khái niệm’… Vì thế, khi tôi chọn một bài viết để giới thiệu cho bạn đọc, có nghĩa là nó chỉ ‘hay’ ở bài này, trong trường hợp này, chứ tổng thể các bài viết của một ‘cây bút’ thì tôi không thể đọc hết được… Tóm lại, tôi chỉ đánh giá cao một người viết nếu: 1) người đó thống nhất một ‘ý niệm’ từ đầu đến cuối, hoặc tiệm cận cái ‘đúng’ vào giai đoạn cuối, quan trọng nhất là ‘lòng tự trọng Việt’; 2) không lải nhải quá về Lão-Trang-Khổng-Mạnh hay các bậc giáo chủ cách đây mấy… ngàn năm, tôi không phục - vì thời nào có ‘thế giới quan’ nấy, nói nôm na là thời này nếu cần viết thư… tán gái thì bạn chỉ cần ‘inbox’ chứ không cần phải dùng bồ câu đưa thư đến tận nhà như ngày xưa!...; 3) một tác phẩm (viết…) có thể có các tính logic như ‘lịch sử’, ‘văn hóa’, ‘xã hội’, ‘tiến hóa/mới’…; sở dĩ ‘Chí Phèo’ bất tử vì tính ‘lịch sử’ và ‘tính ‘văn hóa’ nổi trội của nó, còn đề xuất của ôn Pùi Hìn (và nói hùa theo của pà Đòn Hưng) mặc dù lạ thì có lạ tí tí, nhưng chả có gì mới!, thiệt!, tại ta không để ý thôi, chứ đề xuất như kiểu ông này thì xưa nay có đến cả… vạn người!, và sở dĩ (trong trường hợp này) người ta ‘không nghe’ vì nó không có tính ‘tiến hóa’, thậm chí có thể là… thoái hóa!... 

*
Kết quả hình ảnh cho ngữ hệ nam á
Dưới đây là bài viết của Nguyễn Hải Hoành*, được tôi đánh giá là RẤT HAY, nếu không phải tôi thì ít nhất nó cũng đã được đăng tải trên các trang web như ‘Nghiên cứu quốc tế’, ‘Worldpress’, ‘Hải ngoại phiếm đàm’, trên ‘Tạp chí Văn hóa Nghệ An’ và nhiều tạp chí/trang web cá nhân khác…  Điểm chủ yếu là: 1) ‘Đa số’ học giả Tàu xưa nay, do ‘vô minh’ hay ‘chủ quan’, mà CHẢ HIỂU GÌ NHIỀU VỀ NỀN VĂN HÓA VN hết!; 2) Tiếng Việt có nguồn gốc cơ bản là Nam Á (‘ngữ hệ Nam Á’), mặc dù dưới ‘một ngàn năm đô hộ giặc Tàu’ (hay sau đó) có trộn lẫn một ít tiếng Hán, nhưng KHÔNG CƠ BẢN!; 3) Những người sáng tạo ra ‘Chữ Quốc ngữ’, trong đó có người Việt, đều là NHỮNG NGƯỜI CÓ ĐẦU ÓC BÁC HỌC hoặc là nhà ngôn ngữ học cự phách!; 4) Việc sáng tạo ra ‘Chữ Quốc ngữ’ làm cho những nhà nho Tàu có ‘đầu óc Đại Hán’ rất thất vọng và ghen tị (xem dưới), nhưng ngược lại, đối với lịch sử Việt Nam là một niềm hy vọng to lớn - dân tộc ta sẽ vĩnh viễn KHÔNG BỊ ĐỒNG HÓA!; 5) Trong một cuốn sách có tính kinh điển - ‘Thi nhân tiền chiến’, Hoài Thanh Hoài Chân chỉ chọn những bài thơ viết bằng chữ Quốc ngữ (hoặc từ tiếng Nôm) mà KHỒNG CHỌN BÀI ‘THƠ CHỮ HÁN’ NÀO!...

*
Không thể đăng dài (các bạn có thể đọc toàn bài ở đường dẫn bên dưới), nên tôi chỉ trích ra '7 đoạn' mà tôi cho rằng quan trọng dưới ‘cặp mắt thời 4.0’ - kèm theo lời bình ngắn của tôi bằng CHỮ IN:
Kết quả hình ảnh cho ngữ hệ nam á
SAO LẠI NÓI CHỮ QUỐC NGỮ VN ‘RẤT NỰC CƯỜI’?

1.       Trung Quốc thời hiện đại có một học giả rất nổi tiếng là Quý Tiễn Lâm (Ji Xian-lin, 1911-2009), người được dư luận chính thống nước này tôn vinh là “Quốc học đại sư”, “Học giới Thái đẩu” (Siêu sao trong giới học thuật), “Quốc bảo” (Báu vật của nước nhà)… Cụ Quý chủ trương đề cao nền văn hóa truyền thống TQ, từng đưa ra thuyết “30 năm nước chảy bên Tây, 30 năm nước chảy bên Đông”, khẳng định trong thế kỷ XXI văn hóa TQ sẽ thay thế văn hóa phương Tây trở thành dòng chính trong văn hóa thế giới, chiếm địa vị lãnh đạo toàn cầu…: HA..HA..HA…, ĐÚNG LÀ ‘TƯ TƯỞNG ĐẠI HÁN’!
2.       Các ý kiến nói trên của Quý Tiễn Lâm được đông đảo dân TQ sôi nổi bình luận theo cả hai hướng ủng hộ và phản đối. Đáng tiếc là họ lại không nói gì về lời nhận xét chữ Quốc ngữ Việt Nam “rất nực cười”. Có thể vì câu đó khó hiểu, hoặc vì người TQ không biết về ngôn ngữ Việt Nam nên ngại bình phẩm lời của một đại gia họ sùng bái hết mực… 100 năm trước, đại học giả có ảnh hưởng nhiều tới Quý Tiễn Lâm là Hồ Thích (1891-1962) từng nói: “Chữ viết Việt Nam hiện nay xem ra giống như chữ Pháp bị nước mưa xối tan ra, giống như phiên bản Latin của chữ hình vuông, vừa không thanh thoát cũng chẳng mỹ quan. VN từng dùng chữ Hán lâu dài và phát minh ra chữ Nôm của mình, về sau chịu ảnh hưởng của thực dân Pháp mà triệt để Latin hóa chữ viết, vì thế mà có thứ chữ “Tứ bất tượng” (bốn thứ chẳng giống chữ Pháp, chữ Hán, chữ Nôm, chữ Latin). Ở đây ‘Tứ bất tượng’ còn có nghĩa là không đâu vào đâu, chẳng ra cái giống gì. Có lẽ họ Hồ và họ Quý nhận xét như vậy về chữ Quốc ngữ là do họ chưa hiểu vì sao chữ Quốc ngữ phải có thêm các dấu vào phía trên, dưới các chữ cái: HA..HA..HA…, HỌ CÓ HIỂU CÁI CMN GÌ VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM ĐÂU!
3.       Tiếng Việt có 6 thanh điệu, vì thế chữ Quốc ngữ phải có 5 dấu giọng thể hiện các thanh điệu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, ngoài ra còn có dấu thể hiện âm đọc của các chữ ă, â, đ, ô, ơ, ư… Nhờ những sáng tạo tuyệt vời đó, chữ Quốc ngữ ghi được 100% ngữ âm tiếng Việt, thực hiện được yêu cầu nghĩ và nói thế nào thì có thể viết đúng như thế; viết thế nào thì có thể đọc, nói đúng như thế. Đây là một yêu cầu rất cao về tính chính xác của ngôn ngữ, không phải tất cả các loại chữ viết trên thế giới đều có thể đạt được…: ĐÚNG, TIẾNG TA LÀ MỘT THỨ TIẾNG TƯỢNG-THANH-TRỰC-QUAN (‘CHỮ GHI ÂM’) ĐỘC ĐÁO NHẤT TRÊN THẾ GIỚI, NÊN NHIỀU 'NHÀ ĐA NGÔN NGỮ’, VD, NGƯỜI ANH GEORGE MILLO* CÓ KHEN TIẾNG VIỆT LÀ CỰC KÌ LOGIC - QUÁ ĐÚNG RỒI!
4.       Đáng phê phán hơn nữa là nhiều người TQ do sùng bái cụ Quý nên đã đồng ý với quan điểm ấy và a dua nhau phát biểu những nhận thức sai lệch về VN và tiếng Việt. Chẳng hạn có người TQ nói chữ Quốc ngữ Việt Nam là phương ngữ Quảng Đông (còn gọi là phương ngữ Việt粤方言) được Latin hóa, VN bỏ chữ Hán là một sai lầm lịch sử, hoặc nói VN sau 1945 mới bỏ chữ Hán và chữ Nôm, chủ yếu xuất phát từ nhu cầu chính trị muốn độc lập “thoát Hán”. Vừa qua nhân dịp một vài học giả VN kiến nghị cho trẻ em ta học thêm chữ Hán, trên truyền thông TQ xuất hiện những bài viết với đầu đề đại để như “Việt Nam hối tiếc vì bỏ chữ Hán”…: HA..HA..HA…, LẠI CHẢ BIẾT CÁI CMN GÌ VỀ VIỆT NAM HẾT!... DUNG.TUONG-BO.COM… HỐI TIẾC CÁI… CMN!
5.       Người TQ có các nhận thức nói trên là do họ hiểu sai về nguồn gốc dân tộc ta và về tiếng Việt. Nước ta thời cổ không có chữ viết để chép sử, phải mượn dùng chữ Hán hai nghìn năm, trong đó hơn nghìn năm từng là quận huyện của TQ, cho nên chính người VN cũng dễ tin theo quan điểm của các sách sử TQ viết về nguồn gốc dân tộc ta. Nhiều người TQ hiện nay vẫn nghĩ rằng người VN thời cổ thuộc tộc Lạc Việt, một trong các bộ tộc ở phía Nam sông Trường Giang mà họ gọi vơ đũa cả nắm là Bách Việt (Hình 2)… Thực ra  dân tộc Việt Nam khác hẳn các tộc Bách Việt về chủng tộc, về văn hóa và nhất là về ngôn ngữ. Các thành tựu khảo cổ gần đây càng khẳng định ưu thế của giả thuyết cho rằng dân tộc Việt Nam thời cổ là cư dân bản địa (như người Mường) chứ không phải là dân Bách Việt di cư xuống miền Nam, như quan niệm của người TQ…: CÂU ‘DÂN TỘC VIỆT NAM KHÁC HẲN CÁC DÂN TỘC BÁCH VIỆT VỀ CHỦNG TỘC’ LÀ MỘT TRONG NHỮNG KẾT LUẬN CÓ TÍNH KHÁI QUÁT CAO NHẤT, HAY NHẤT VÀ CÓ Ý NGHĨA NHẤT TRONG BÀI VIẾT NÀY: NGƯỠNG MỘ! LƯU Ý RẰNG CÁI ‘VỤ BÁCH VIỆT’ LÀ DO SỬ TÀU ĐẺ RA, CHỨ KHÔNG CÓ BÁCH VIỆT CÁI CMN GÌ HẾT!
6.       Tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer trong “Ngữ hệ Nam Á” (Hình 3), khác hẳn ngữ hệ Hán-Tạng, và tuyệt đối không phải là một phương ngữ của tiếng Hán, thể hiện rõ nhất ở chỗ có nhiều âm tiết hơn và khác hẳn về ngữ pháp; bởi vậy chữ Hán không thể nào ghi được tiếng Việt. Cho dù đã dùng chữ Hán hai nghìn năm nhưng nước ta vẫn không bị Hán hóa như phong kiến TQ mong muốn, và không thể có một nền văn học tiếng Việt, chỉ có một nền văn học chữ Hán nghèo nàn (các học giả Đặng Thai Mai, Hoài Thanh… không xếp vào loại văn học dân tộc ta). Chữ Hán chỉ được tầng lớp quan chức và trí thức VN dùng trong công việc hành chính, giao tiếp với TQ, ghi chép sự việc, làm văn thơ theo kiểu văn thơ TQ…, và đọc bằng âm Hán-Việt. Để xây dựng một nền văn hóa dân tộc, tổ tiên ta đã tự sáng tạo ra chữ Nôm, và cuối cùng chấp nhận dùng chữ Quốc ngữ do các giáo sĩ châu Âu làm ra. Cả hai thứ chữ này đều ghi âm được tiếng Việt nhưng chữ Quốc ngữ hoàn thiện hơn. Quá trình người VN bỏ chữ Hán chữ Nôm, chuyển sang dùng chữ Quốc ngữ là một quá trình tự nhiên, tự nguyện, chủ yếu vì chữ Quốc ngữ ghi được 100% tiếng Việt và dễ học, dễ nhớ, dễ viết, dễ dùng, hơn hẳn các loại chữ tổ tiên ta đã biết. Quá trình chuyển đổi chữ viết này rất thuận lợi, nhanh chóng thành công trên cả nước, tuy mới đầu có gặp sự phản đối yếu ớt từ một số ít nhà Nho cổ hủ. Tất nhiên sự ủng hộ của chính quyền cai trị cũng góp phần thúc đẩy quá trình đó. Trong thời gian ngắn, nước ta xuất hiện một nền văn hóa, văn học nghệ thuật, báo chí tiếng Việt và phát triển rầm rộ chưa từng thấy. Nói Việt Nam thất bại trong cải cách chữ viết là hoàn toàn sai lầm: CHỮ QUỐC NGỮ RA ĐỜI LÀ TẤT YẾU CỦA SỰ TIẾN HÓA CỦA LỊCH SỬ-TỰ NHIÊN, MỘT DÂN TỘC ĐỘC LẬP THÌ HIỂN NHIÊN, KHÔNG SỚM THÌ MUỘN, SẼ CÓ NGÔN NGỮ VIẾT ĐỘC LẬP!
7.       Rõ ràng, các giáo sĩ tham gia làm chữ Quốc ngữ như Antonio Barbosa, Gasparo d’Amiral, Alexandre de Rhodes, Francesco de Pina, Cristoforo Borri, Pigneau de Béhaine… không chỉ giàu nhiệt tình tạo chữ ghi âm tiếng Việt mà còn có kiến thức cao siêu về ngôn ngữ học, nhờ thế tuy ít người và làm việc phân tán nhưng họ đã hoàn thành một sáng tạo vĩ đại trong lịch sử ngôn ngữ học thế giới: lần đầu tiên dùng chữ cái Latin làm ra một loại chữ ghi âm thành công tiếng nói của một dân tộc châu Á, tạo ra cho người Việt Nam một hệ thống chữ viết hoàn toàn mới, Latin hóa, ghi âm chính xác 100% tiếng Việt. Đây là món quà vô giá dân tộc ta nhận được từ nền văn minh Ki Tô giáo trong quá trình giao tiếp văn hóa Đông Tây. Trên thế giới không có loại chữ viết nào tuyệt đối hoàn hảo; chữ Quốc ngữ cũng vậy. Dù sao nó thích hợp nhất với tiếng Việt. Do được Latin hóa nên việc mã hóa chữ Quốc ngữ để đưa tiếng Việt vào máy tính trở nên rất thuận tiện, không mất hàng chục năm nghiên cứu như việc mã hóa chữ Hán. Trong các dân tộc từng dùng chữ Hán, duy nhất Việt Nam nhờ có chữ Quốc ngữ mà đã hoàn toàn “Thoát Hán” về ngôn ngữ, “thoát” một cách nhanh gọn, không chút dính dấp tới chữ Hán… Có thể thấy chữ Quốc ngữ thực sự là một sáng tạo phi phàm, một thành tựu lao động trí tuệ xuất sắc của các nhà truyền giáo đạo Ki Tô người châu Âu… khi sáng tạo ra chữ Quốc ngữ không biết rằng họ đã làm được một cống hiến vĩ đại cho dân tộc VN… Tiếp đó, công lao hàng đầu trong sự nghiệp bảo vệ và truyền bá phổ cập chữ Quốc ngữ thuộc về các nhà sáng lập phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, các học giả Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh…, cùng hàng triệu người tham gia phong trào Truyền bá Quốc ngữ và Bình dân học vụ… Học giả Phạm Quỳnh ca ngợi Chữ Quốc ngữ là công cụ giải phóng trí tuệ của người VN. Đúng thế, chữ Quốc ngữ mở ra không gian vô tận cho tư duy của người Việt, bất kỳ ý nghĩ nào cũng có thể ghi lại bằng chữ - điều này trước đây chưa bao giờ thực hiện được. Chữ Quốc ngữ dễ học, dễ nhớ, dễ đọc dễ viết; nhờ thế chỉ trong một thời gian ngắn nước ta đã xóa được nạn mù chữ, nâng cao vượt bậc trình độ hiểu biết của dân chúng. Kho tàng tiếng Việt giàu có hơn bao giờ hết, có thể diễn dịch mọi thành tựu mới nhất của nhân loại về khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội-nhân văn… Với khoảng gần 90 triệu người dùng, chữ Quốc ngữ trở thành ngôn ngữ viết top 25 thế giới… Các thành tựu của chữ Quốc ngữ rất to lớn, trên đây chỉ có thể lướt qua vài điểm. Hãy tưởng tượng nếu ngày nay nước ta vẫn dùng chữ Hán, chữ Nôm thì nền văn minh Việt Nam sẽ lạc hậu thảm thương như thế nào. Chữ Hán không ghi âm được tiếng Việt, chữ Nôm ghi âm được tiếng Việt nhưng khó gấp nhiều lần chữ Hán, phải biết chữ Hán mới học được chữ Nôm. Với hai loại chữ vuông đó sao có thể truyền bá được các giá trị văn hóa tư tưởng hiện đại, các khái niệm khoa học kỹ thuật… và xây dựng ngành văn hóa giáo dục, văn học, báo chí, truyền thanh truyền hình, xuất bản… với quy mô như ngày nay? Rõ ràng chữ Quốc ngữ là di sản phi vật thể lớn nhất, giá trị nhất chúng ta nhận được từ tổ tiên mình - những người góp phần không nhỏ giúp các nhà truyền giáo châu Âu làm ra chữ Quốc ngữ và sau đó đồng tâm nhất trí chấp nhận dùng thứ chữ này (Hình 4):
 Kết quả hình ảnh cho Xin chào Việt nam
RẤT ĐỒNG Ý VỚI CỤM TỪ ‘SÁNG TẠO VĨ ĐẠI’ MÀ TÁC GIẢ DÙNG!
‘CHỮ QUỐC NGỮ TRỞ THÀNH NGÔN NGỮ VIẾT TOP-25 THẾ GIỚI!
DÂN TỘC VIỆT NAM KHÁC HẲN CÁC DÂN TỘC BÁCH VIỆT VỀ CHỦNG TỘC, VĂN HÓA VÀ NHẤT LÀ NGÔN NGỮ. 

---------
Chú dẫn:
1.       Bài viết… chấn động của Nguyễn Hải Hoành: http://nghiencuuquocte.org/2017/12/11/sao-lai-noi-chu-quoc-ngu-vn-rat-nuc-cuoi/
2.       Bài viết của ‘nhà đa ngôn ngữ’ - Giáo viên người Anh George Millo: https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/hoc-tieng-anh/tieng-viet-trong-mat-mot-nguoi-anh-3375591.html,
3.       Bổ đề Lie: Bổ đề cơ bản trong trường hợp tổng quát cho các đại số Lie… “Bổ đề cơ bản” - một điểm mấu chốt trong “Chương trình Langland” được ước tính sẽ đòi hỏi công sức của nhiều thế hệ các nhà toán học mới có thể hoàn thành. Nhưng thật bất ngờ, GS Ngô Bảo Châu đã chứng minh được nó sau chỉ 15 năm nghiên cứu… Đỉnh điểm là đầu năm 2008, GS Châu công bố một chứng minh hoàn chỉnh cho bổ đề cơ bản trong trường hợp tổng quát cho các đại số Lie. Lúc đầu công trình “chỉ khoảng” 150 trang. Sau khi lược bỏ bớt những điều không phục vụ trực tiếp cho chứng minh Bổ đề cơ bản và diễn giải chi tiết hơn, công trình dài thành 188 trang! Dù ý tưởng chứng minh rất rành rọt, các nhà Toán học đầu đàn phải mất hơn 1 năm để kiểm chứng các chi tiết của nó! ‘Đây là một kỳ tích vĩ đại của nền toán học thế giới’… (dantri.com.vn)
4.       Người nước ngoài khen tiếng Việt cực kỳ LOGIC!: https://nhagomlabang.blogspot.com/2017/09/997-nguoi-nuoc-ngoai-khen-tieng-viet.html
5.       Ngữ hệ Nam Á: Cộng đồng các dân tộc Việt Nam được chia làm 5 ngữ hệ chính: ngữ hệ Nam Á (29 ngôn ngữ), ngữ hệ Hán - Tạng ( 9 ngôn ngữ), ngữ hệ Thái (9 ngôn ngữ), ngữ hệ Hmông - Dao ( 3 ngôn ngữ), và cuối cùng là ngữ hệ Nam Đảo ( 5 ngôn ngữ) với 5 dân tộc: Chăm, Êđê, Gia Rai, Ra Glai, Churu... Xem thêm: http://tailieu.vn/doc/ngu-he-nam-dao-102333.html 

Thứ Tư, 13 tháng 12, 2017

1045. …Bị đồng hóa rất sâu sắc! (Thư giãn)

Tôi mới ‘gom’ được một câu và hơi bị khoái, rất khoái:
- Đúng là người Việt không có triết học của riêng mình. Không chỉ triết học mà các môn khoa học hàn lâm khác như toán... cũng không được chú ý lắm. Người ta tự hào vì không bị đồng hóa sau hàng ngàn năm đô hộ ‘nhưng thực ra đã bị đồng hóa rất sâu sắc’ khi mà lịch sử đô hộ đã kinh qua những triều đại rực rỡ nhất của Trung Hoa như Đường, Hán...; ảnh hưởng mạnh mẽ về tính bắt chước và thực dụng có lẽ bắt nguồn từ đất nước Trung Hoa đầy chiến loạn trong đó triết học chỉ như vũ khí trị quốc bình thiên hạ. (Lời bình của Khoa Anh*, fb Nguyễn Minh Chí).
Kết quả hình ảnh cho lịch sử chống giặc phương bắcXin bắt đầu bằng chuyện: 1) Nạp năng lượng, đến 2) Vết nhơ trong lịch sử Mỹ và một trong 25 cuốn sách làm thay đổi thế giới, 3) Lịch sử Việt Nam! và những người cùng khổ…

1
Nạp năng lượng trước cái đã… Thời Tống Huy Tông (tk12), có tay Tống Giang* - làm Áp ty, một chức thư ký trong huyện - được thiên hạ phong là Cập thời vũ Tống Công Minh. ‘Công minh’ là gì?, không cần Háng-Vịt dài dòng, ‘cập thời vũ’ là mưa cứu hạn, có nghĩa là nếu có ai đó bị ‘hạn’ mà gặp được Tống Giang thì sẽ được cứu giúp, nên người đời rất ngưỡng mộ và gọi ông là ‘Công Minh’… Và bởi nghe Tống Giang là một tay đại hào hiệp, sẵn sàng giúp bạn - dù mới quen - không tiếc xu nào, thậm chí sẵn sàng bán nhà để giúp…, nên một anh thầy giáo mới đem lòng ái mộ, bèn quyết tâm sống và làm như Tống Giang!
Lúc đó là thời bao cấp không có gì để ăn (năm 1985-1990, mỗi tháng giáo viên được công đoàn bán bổ sung cho nửa kí thịt heo và một kí cá), mẹ anh thấy vậy bèn cho anh 2 con vịt con; anh đem nuôi ở cái ao cá của nhà trường (lưu ý là thời đó chưa có trộm cắp, chả bì với thời nay - ‘một mét vuông có 36 thằng ăn trộm’, một câu thành ngữ ở Hải Phòng)… Mấy tháng sau, hai chú vịt đã lớn cỡ 1 kí, lại có anh ‘vợ tương lai’ đến thăm, anh bèn trổ ‘tinh thần Tống Giang’ - bằng cách bắt vịt vô làm thịt, nhưng làm thịt vịt cực khó, nội việc nhổ lông con cho sạch cũng mất cả tiếng!… Đang lo thì thằng bạn đi đâu mới về, miệng phì phèo điếu thuốc cuốn (một loại thuốc lá Điện Bàn, Quảng Nam) to như điếu xì gà của Phi-đen ở Cu Ba, vất chiếc xe đạp xuống cái ‘rầm’, rồi xắn tay áo lao vào giúp… Nhoáng sau, nồi cháo vịt bưng lên, hành lá thì nhổ trộm ở ‘miếng đất 5%’ của một cô giáo trồng bên cạnh, rượu thì thằng ‘Phi-đen’ đem sang, thuốc lá ‘Lao động’ thì sẵn có…, ‘Tống Giang’ ngồi chén thù chén tạc với thằng bạn, nhất là với ông anh vợ tương lai, vui ra phết!
Còn một con nữa… Số là nó bơi (kiếm cá ăn) ở gần một cái hố xí, nên tiện thể nó cũng bặt bặt ‘cựt’ luôn, mà anh không biết!... Anh lại trổ tiếp cái ‘tinh thần Tống Giang’ bằng cách làm con vịt thứ hai... Thấy thằng bạn đi đâu về sớm, đang lúi húi làm ‘cà phê con’ trong vườn ươm, anh bằng qua đánh động rằng hôm nay sẽ làm thịt vịt mời hắn, nào ngờ hắn cứ ngậm điếu ‘Phi-đen’ và lặng ngắt không nói tiếng nào!... Không nản lòng, anh vào bếp lúi húi làm thịt vịt, mất cả 3 tiếng đồng hồ đến 12h30 mới bưng ra, hú thằng bạn, nó nhào vào đớp ngay, đớp no nê xong, nó quay đít lại, rẹt rẹt bỏ ra ngoài vườn ươm, không hề tỏ một ý tí xíu gì là ‘cám ơn’ cả!... Ghê hơn là khi anh gặm cái cổ vịt, nó có vị đắng, anh mới biết là ‘cựt người’ còn dính trong đó, nhưng không dám nói ra…
Kể từ đó, anh thầy giáo quên cmn cái vụ muốn làm Tống Giang kia đi… 30 năm sau, anh ngộ ra rằng:
- Mọi thứ ta phải là ta, phải tự cải thiện cái tốt, cái sở trường mà ta có, chớ nên bắt chước dân cá Tràu mà có ngày ăn nhằm phải cái… ‘cụk cựk’!, ha..ha..ha…

Thứ Hai, 11 tháng 12, 2017

1044. Chí Phèo 2017 (Truyện ngắn)

Có một con hạc giấy
Tôi mang mãi theo người
Nàng nay xa xôi mắt
Chú hạc, im, ngậm ngùi
Sớm mai, nắng thăm vườn
Đường thênh, ta dạo bước
Nắng rừng sau lưng rượt
Gió lồng, ướt mi sương
---------
Giữa chiều Chủ nhật, trời còn năng nắng, Chí Phèo lên chiếc xe Future xám, mần một cú dạo bờ sông Sài Gòn… Vừa chạy, gã vừa hát nghêu ngao: ‘ My songs quietly implore you through the night down to the silent wood. My love, come to me!…’ (Chiều buồn nhẹ xuống đời. Người tình tìm đến người. Thấy run run trong chiều phai… Lời Việt: Phạm Duy).
https://www.youtube.com/watch?v=sDR-HxMAVXg

Phạm Duy dịch như thế!, thế mà gã dịch thoáng là:
Chạm nắng ai ngờ chạm… áo em
Chiều buông vẽ trọn núi cong mềm
Cỏ may lướt gối vô tình kéo
Ta biết nên về hay ở… thêm!

Chả biết gã học tiếng Anh từ tụi Tây nào!, nhưng trước mắt thì gã đúng là cái đồ ‘xxx đến thế là cùng’, mà ông Lỗ Tấn nói là nổ như… A Cu!, hehe…
*
Kết quả hình ảnh cho Nguyễn Sóng Hiền, Chí PhèoMấy hôm nay, nghe nói nghiên cứu sinh Nguyễn Sóng Hiền* ở bên Úc (Hình nền) nói rằng nên đưa ‘Chí Phèo’ ra khỏi Chương trình sách Ngữ Văn lớp 11…, có câu: ‘Một đứa trẻ không cha, không mẹ, không được giáo dục bị đẩy đi ở tù liệu ra tù nó có thể trở thành người tốt không? Và chính lúc say Chí cũng chửi “cái đứa nào đã đẻ ra mà không nuôi Chí” chứ đâu chửi cái xã hội đang sống. Đơn giản, Chí không phải là một sản phẩm của xã hội đó. Chí chỉ như những đứa trẻ cùng hoàn cảnh ở bất kỳ xã hội nào khác. Vì vậy, không thể quy chụp rằng Chí bị xã hội phong kiến lưu manh hoá, hay bị cường hào ác bá làm hại…’. Chí gật gù nghĩ:
- Có lý, ta là con người của mọi chế độ/xã hội còn có áp bức, bất công, phân biệt đẳng cấp, sùng bái cá nhân…, nên việc đổ tội của ta cho cái 'Triều đình phong kiến phụ thuộc ngoại bang' thời đó (Bảo Đại, 1925-1945) là nghe không lọt lỗ tai, chả lẽ bây giờ hết hẳn đầu óc phong kiến rồi!, hay không còn phụ thuộc ngoại bang nữa!, ha..ha..ha…

…Ta biết ta có tội, tội rất lớn, đó là: nhậu nhẹt say xỉn, rồi ra đường ‘chân nam đá chân xiêu’, chửi ‘Đan Mạch, Cmn’ suốt ngày làm ảnh hưởng toàn thể bà con lối xóm, làm hư con nít…, làm ‘ô nhiễm môi trường tinh thần xã hội rất nặng’; ‘ai lớp du bạch bạch’ Thị Nở dưới bụi chuối, rồi mượn hiện tượng ‘bát cháo hành’ để dụ khị thiên hạ sau này dựng nên ‘thiên tình sử’!; xỉn, cầm dao đi tìm giết cả nhà Thị Nở (ai bảo bà cô ngăn cản, ả lại ra ì xèo với ta, còn đánh đấm dúi đầu ta xuống đất), rồi ta mới đi nhầm đường rồi lỡ tay giết Bá Kiến chớ bộ!, híc..híc... Ta đâu có cần pọn… Nhạc Mất Quần đời sau kết luận là ‘xã hội ‘cũ’ làm hư Chí Phèo, chứ xã hội ‘mới’ thì đâu có đâu’ cái cmn gì gì đó, gừ.. gừ.. gừ…, toẹt.. toẹt.. toẹt… Mà ta có nói... sai đâu, cụ Wikipedia chỉ nói chừng nầy thôi: 'Chí Phèo là một tấn Bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội', rồi dừng!, có nói cụ thể là xã hội xxx nào đâu!, hehe... Và cứ để cho Nam Cao sống lại viết về cái hiện thực 'mới' so với cái 'cũ' để xem thử mèo nào cắn mỉu nào!
…Gã lại loáng thoáng nghe một cụ miền Tây bình rằng:
- Cái cuối cùng mà tên siêu quậy Chí Phèo và một nhan sắc ma ghen quỷ hờn Thị Nở tìm được là tình yêu, sau những ngày quậy quạng tới bến. Một tình yêu đích thực mà những Chí Phèo - Thị Nở hiện đại không thể nào tiếp cận được. Cái chết của Chí Phèo, nhưng thực ra không phải Chí Phèo, như để chấm dứt một hiện thực xã hội đốn mạt cần phải chấm dứt. Một Chí Phèo đích thực luôn luôn xuất hiện trong “cái đám quần chúng không biết gì” là một điều cần thiết để cho những Chí Phèo có bằng Tiến sĩ chết đi (!, Phạm Hiền).
Rồi một cụ Sài Gòn nói:
- Cái thằng Chí đó mới ở cấp… vật, chưa thành người!
Nó làm ta đau lòng nhớ lại phim 'Chí Phèo' - lúc ta chấm chấm chấm với Thị Nở thì người ta cũng chiếu cảnh con cóc đực ... với con cóc cái, hu..hu..hu… 
*
Lại nghe có ông nào đó mới mần cái ‘Qôn Qữ Họk’ gì gì đó mà xây nhà không cần mua đá, đá nhiều quá, ta cũng thấy hơi bị xót!..., nhưng cũng thấy phơi phới trong lòng vì có người gọi ổng là ‘Chí Phèo thời @’, té ra ta cũng có nhiều hậu duệ đấy chứ!, đã quá!, đã quá!, ha..ha..ha…
…Nói vậy chứ ta cũng mấy cái bằng tiến sĩ giấy trong tay, nên ta… hiểu! Việc đề xuất ‘sáng kiến’ trong (các) hội thảo là chuyện phình phường, chuyện thường ngày ở huyện, như có lần có bạn gái ta đề xuất là nên xem thiên hạ là ‘cái đám quần chúng không biết gì’ đó thôi!, tội… nhẹ mà!, bên Tàu gọi là ‘mục hạ vô nhân’ thôi!, có… gì đâu!, khẹc.. khẹc.. khẹc…
Không có văn bản thay thế tự động nào.…Ta chỉ rất không đồng ý là tại sao cái ‘bảng tiếng Việt mới’ lại giống tiếng Trung nhỉ!!! (Hình 2):
- Dân tộc = Zan (tiếng Trung) = Zân tộk (tiếng Việt); Giáo dục  = Zao zu (tiếng Trung) = Záo zụk (tiếng Việt); Giao dịch = Zao zi (tiếng Trung) = Zao zịc (tiếng Việt); Chính Phủ = Cin fu (tiếng Trung) = Cín’ fủ (tiếng Việt); Dân tộc = Zan (tiếng Trung) = Zân tộk (tiếng Việt); Lạnh giá = Lan za (tiếng Trung) = Lạn’ zá (tiếng Việt); Giao thông = Zao wong (tiếng Trung) = Zao wôq (tiếng Việt); v..v…
Nó làm ta nhớ đoạn văn hơi bị ‘móc’ sau đây của nhà văn… kiếm hiệp Lang Truong*:

…Lão quái buồn rầu:
- Trước, ân sư của lão phu là Vũ Đại Quốc Sư đã gần bách tuế, danh tiếng lẫy lừng, oai trấn thiên hạ, công phu thâm hậu hơn lão phu gấp cả vạn lần, còn không phá nổi Xạ Thạch Trận của võ lâm quần hùng, liệt gường từ bấy đến nay. Sự thể đã đến nước này, phải dùng đến chiêu cuối trong Ngu Ngữ Học của lão phu: Miệng lưỡi đàn bà, quỷ ma cũng phải sợ! Xin Quan Thượng cho thỉnh gấp hiền muội của lão phu, là chưởng môn phái Nga Mi, Đường Ham cô cô, cấp tốc đăng đài, may ra cứu vãn được.
Quan Thượng Dục, U Minh Giáo Chủ y lời, phát lệnh, triệu Đường Ham cô cô đến, 
vừa đến, lập tức xuất chiêu. 
…Nói qua Đường Ham cô cô. Vị này vốn người Đại La, từ nhỏ đã đam mê võ học, tố chất hơn người. Vũ Đại Quốc Sư cưng lắm, chân truyền tuyệt kỹ Đại La Âm Pháp cho Đường Ham cô cô. Nguyên thành Đại La vốn là nơi linh khí hội tụ, đất đế đô ngàn năm văn vật. Đại La Âm Pháp nguyên thủy du dương dìu dặt, thanh lịch mà mê hoặc lòng người. Vũ Đại Quốc Sư chê là uỷ mị nên đã cải biên, truyền đến Đường Ham cô cô thì khàn khàn, đùng đục tựa tiếng trống đồng bị vỡ. Mỗi lần Đường Ham cô cô phát Đại La Âm Pháp là một lần giang hồ lại dậy sóng.
Tên xà ích, nãy giờ vẫn khoanh tay đứng hầu quan thượng, bất ngờ chen vào:
- Bẩm quan Thượng, hồi hôm thuộc hạ xem thiên văn, thấy sao Thái Âm phạm nhầm cung Đâu Suất. Đấy là điềm tối kỵ của nữ lưu. Vả lại Đường Ham cô cô tánh khí cương cường, ngạo mạn, đã từng sử chiêu “Vô Công Rồi Nghề” để đối địch quần hùng, thương thế rất trầm trọng. Xem ra Thạch Trận của võ lâm muôn phần lợi hại. Xin Giáo Chủ hãy hết sức dụng tâm cẩn thận đề phòng, mới mong thủ thắng.
Bỗng nghe đánh “rầm” một tiếng, bụi bay mù mịt, đất đá bắn tung toé. Một bóng người sừng sững, oai vệ hiện ra giữa đám bụi mù. Phiến đá hoa cương giữa dinh quan Thượng Dục bị lún xuống tận đầu gối. Mọi người kinh hãi nhìn ra: Đường Ham cô cô!
Đường Ham cô cô nạt lớn:
- Tên tiểu nhân vô lễ! Sao dám mạo phạm uy danh của ta. Bọn giang hồ nhãi nhép đó nào có công phu gì đáng kể. Ta đường đường là Nga Mi Giáo Chủ, lại sợ bọn chúng hay sao. Mục Hạ Vô Nhân Diệu Pháp của ta đã đạt đến mức thượng thừa. Phen này xuất chiến, quyết phá tan Thạch Trận, rửa hận cho đại sư huynh Bùi Cụk Cặk!...

Ta không chú ý lắm đến ‘ý’ của tác giả, ta cũng không thích nghe những ‘Thiên Cang Bắc Đẩu Trận’, ‘Càn Khôn Đại Na Di Tâm Pháp’, ‘Hấp tinh đại pháp’, ‘Hoa sơn luận kiếm’, ‘Côn Luân tam thánh’, ‘Đại hội võ lâm Tung Sơn’, ‘Quang Minh Đỉnh’ gì gì đó - nghe Tàu quá!; nhưng cứ nghe ‘Xạ Thạch Trận’ là ta nhớ tới Tràng An-Ninh Bình gần Hà Nam quê ta, ‘Đại La Âm Pháp’ là ta nhớ tới Thành Đại La-Hà Nội xưa và tay Cao Biền có món ‘yểm bùa’ rất là âm hiểm, nhất là việc:
- Làng Vũ Đại của ta nay lại có Quốc sư!, làm ta phái quá!, ha..ha..ha…
*
Quay lại đoạn trên…
- Giáo dục  = Zao zu (tiếng Trung) = Záo zụk (tiếng Việt)…
Có khác gì đâu!, đọc xong ta cứ tưởng ta là người nước ‘lạ’ chứ!, hu..hu..hu…, nên ta nghi có vụ ‘tích hợp’ gì gì đó ẩn bên trong!, nghi lắm!..., mà chuyện này để ‘hạ hồi phân giải’…, nhưng ta còn tức ở chỗ là người ta ví cái đề xuất ‘Qôn Qữ Họk’ này với ‘Thuyết nhật tâm’ của ông Copernic* chứ!
Kết quả hình ảnh cho copernicusCopernic là ai? (Hình 3). Không cần phải nói như người ta… ổng là một trong những thiên tài vĩ đại nhất của loài người chi cho mang tiếng ‘sùng bái cá nhân’ - ta DELL cần!, mà ta chỉ cần biết là trong 2600 năm nay thì nhân loại mới sản sinh ra được một con người như vậy (Ôi, ở xứ Vũ Đại của ta chỉ có một trít, một chủ nghĩa, ‘trển’ lại đầy ‘thung nhảm’, nên… 2000 năm nữa chưa chắc đã có nổi một Copernic!, híc..híc…): Dám chống lại tất cả các loại kinh như Kinh Vệ-đà, Kinh bụt, Kinh thánh, Kinh ala, Đạo đức kinh, Nam hoa kinh, Tứ thư ngũ kinh, ‘Lã Thị Xuân Thu’ kinh, ‘Lĩnh Nam chích quái’ kinh… gì gì đó; chứ cái đám Khử Tổng, Lữ Tảo, Trư Tảng, Mự Tảnh xưa thật là xưa… cho rằng ‘trời tròn, đất vuông’ - tròn như cái bánh giầy, vuông như cái bánh chưng, làm cho hoàng tử Lang Liêu làm mệt thấy ông bà cố nuôn!, nhất là thể hiện qua câu ‘Tứ hải giai huynh đệ’ - làm cho mặt trời bị quay quanh trái đất… tắt thở nuôn:

Ngày xưa, có ông Khổng Tử mà ổng nghĩ là cái gì ổng cũng biết cả. Một hôm, ổng cùng đi với chúng đệ tử thì gặp một cậu bé khoảng 7 tuổi. Cậu bé, tên là Hạng Thác*, vốn thông minh và nghịch ngợm, biết là Khổng Tử tưởng mình là số một, nên cậu chặn đường, chào hỏi rất lễ phép và khiêm tốn hỏi:
- Thưa ông, tại sao buổi sáng mặt trời lại to, còn buổi trưa mặt trời lại nhỏ?
'Trúng mánh rồi, dễ ồm à!’, Khổng Tử thầm nghĩ. Vì mình là ‘Thánh nhân’ và vì đứng trước chúng đệ tử, ông ta liền trả lời:
- Buổi sáng mặt trời to hơn vì gần ta hơn.
- ‘Thế tại sao buổi trưa mặt trời xa hơn mà lại nóng hơn?’, cậu bé hỏi.
Khổng Tử… bí và than rằng ‘hậu sinh khả úy’ - nhờ đó mà ngày nay ta có câu ‘Trường Giang sóng sau xô sóng trước’! Trận đại bại của ông ta làm cậu bé Hạng Thác nổi tiếng cho đến nay!
Ha..ha..ha…
*
Ôi, kể lang bang tí xíu nữa ta quên phần quan trọng nhất của câu chuyện…

Như trong câu nói sau đây: cho xe vô gara, rồi check giùm cái bình điện, nếu hết charge thì câu điện giùm, vô nhà coi công to [compteur] tháng này tiền nước bao nhiêu. Có đến 6 ngôn ngữ khác nhau của cả thế giới trong câu nói ngắn đó mà ta không ngờ! [Việt, Tàu, Pháp, Anh, Mỹ]. Một chuyện lạ hơn nữa là, cách đây mấy ngàn năm, ngoài tiếng Tàu ra, ông bà ta còn dùng và xài không biết bao nhiêu là tiếng nước ngoài ở Đông nam Á châu mà ta cứ tưởng đâu là tiếng Việt của ta, không ngờ đó là tiếng nói của biết bao ngôn ngữ láng giềng, mà lại không phải là tiếng Tàu.
Thí dụ ta nói tha thiết thiết tha, đó là tiếng Thái; vắng vẻ, đó cũng là tiếng Thái luôn; đủng đỉnh, vâng, cũng là tiếng Thái!; vơ vẩn vẩn vơ, đó là tiếng Lào đó bạn ơi; chân tay, chân mây, nó là tiếng Khmer đó; một ngày, một hai ba bốn năm, đó cũng là tiếng Miên luôn! Cụ Nguyễn Gia Thiều cách đây gần 200 năm đã viết: "Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán" [đành hanh là tiếng gốc Chàm đó bạn ơi, có nghĩa là ganh ghét, ganh tị]. Cụ Nguyễn Trãi cách đây gần 600 năm nói: “Tuy rằng bốn bể cũng anh tam” [Đó là tiếng Mã lai hiện nay đó bạn ơi, có nghĩa là thằng em trai]. Hay là: Hai chữ công danh tiếng vả vê. Đó là tiếng Lào xưa đó, vả vê có nghĩa là trống vắng, mà bây giờ người Việt không còn ai nói nữa. Người Việt nói cái dùi cui hay đùi cui thì 250 triệu người Indonesia và Malay cũng nói là đulkul... y hệt! Hai tiếng Nôm na mà ai cũng cho là Nôm là Nam, vậy thì na là gì? Mọi người đều lờ đi! Thật ra, Nôm và na đều có nghĩa gốc là xưa, cũ, lâu đời… đã có từ lâu. [Các tiếng Lào, Thái, Khmer đều có ghi hai tiếng "nôm na" và đều giải thích như vậy]
Tiếng Nôm là tiếng nói xưa của người nước ta, đã nói như vậy từ lâu, truớc khi ông bà ta gặp người Tàu. Còn nhiều nữa, rất nhiều nữa, cả thảy 27.400 tiếng Việt như vậy (!), ta đã cùng nói cùng xài chung, dùng chung, của không biết bao nhiêu là ngôn ngữ anh em chung quanh ta, đến nỗi là không có một tiếng Việt nào mà lại không có chung đồng nguyên [gốc gác] với một vài ngôn ngữ khác ở miền Đông nam Á này. Các tiếng nói Đông Nam Á, Khmer, Lào, Thái, Chàm, Malay, Indonesia, Nùng, Hmong, Bahnar, Rhade..., bao bọc tiếng Việt trong một vòng dây thân ái của tình anh em ngôn ngữ chung giòng chung họ hàng mà chúng ta không ngờ đến đó thôi. Nhưng tiếng Việt có một điểm rất lạ, dễ thì dễ mà khó cũng thật là khó, vì ta tưởng là ta viết đuợc tiếng Việt là ta hiểu được tiếng Việt.
Thật ra ta không hiểu tiếng mẹ đẻ của chúng ta nó ra làm sao cả: ta nói đau đớn mà ta không hiểu đớn là gì [đớn là tiếng Mon có nghĩa là đau cái đau của lòng mình]; ta nói rộn rịp mà không hiểu rịp là gì, [rịp là bận việc], gốc tiếng Lào Thái đó bạn ơi; ta nói săn sóc, chăm sóc mà ta chẳng hiểu săn là gì mà sóc là gì. Săn là theo dõi, sóc là sức khoẻ # health [gốc Sanskrit/Pali đó]. Có cả thảy chừng 10 ngàn tiếng Việt gốc gác như thế!
Thành thử dù cho ta có biết viết chữ Nôm, hay chữ Tàu đi nữa, ta vẫn không thể nào bíết ý nghĩa của mỗi từ ngữ trong tiếng Việt của ta đâu! Biết thêm vài ba ngàn tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu, chữ Nôm thì cũng tốt thôi. Ta sẽ trở thành một thứ học giả "bất đắc dĩ", nhưng đừng tưởng rằng như vậy là đã hiểu thông suốt tiếng Việt. Cái này đòi hỏi phải có một trình độ và khả năng hiểu biết ý nghĩa nguồn gốc của mỗi chữ mỗi âm, mỗi từ trong tiếng Việt mà con số lên đến gần 10 ngàn tiếng đơn như vậy. Chỉ có một cách qua được cái khó khăn vuợt bực đó. Đó là phải có một bộ từ điển nguồn gốc tiếng Việt, tham khảo khắp cả 58 thứ tiếng lớn nhỏ ở nam Á châu, từ tiếng Thái Lào, Khmer, Miến, Malay, Indonesia, cho đến những tiếng nói thiểu số với vài ba trăm ngàn người, tiếng Muờng, tiếng Nùng, tiếng Hmong, tiếng Chàm... Chúng nó đều có đóng góp âm thanh, giọng nói và ý nghĩa gốc gác, hay làm nguồn cội ban đầu cho mọi từ, mọi ngữ trong tiếng Việt.
Và đó là bộ từ điển nguồn gốc tiếng Việt, sắp xuất bản mà chúng tôi xin phổ biến truớc một ít từ ngữ nguồn gốc Việt để các bạn và quý vị xem cho vui. (BS Nguyễn Hy Vọng)
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1618521898212590&id=100001643878327

Ta ấn tượng nhất câu:
- Biết thêm vài ba ngàn tiếng Pháp, tiếng Anh, chữ Tàu, chữ Nôm thì cũng tốt thôi. Ta sẽ trở thành một thứ học giả "bất đắc dĩ", nhưng đừng tưởng rằng như vậy là đã hiểu thông suốt tiếng Việt.
Thế mà ôn Pùi Hìn lại... xxx tiếng Vịt!!!, híc..híc…
*
Chí, mặc dù đã có mấy cái bằng tiến sĩ rồi, thành tay Tá Sĩ Diễn rồi, nhưng vẫn còn rất muốn ‘di choi’…
Gã mới đằng vân xuống đường Lê Thánh Tôn (Sài Gòn) để xem phim ‘Cuộc đời chị Phụng 2015’* - cũng là một dạng ‘Chéo Phì’ như gã!… Rồi ghé Tây Nguyên xem ‘Chương trình ca nhạc lưu diễn’ (của một nhóm bê-đê)…, bỗng gã ghi nhận: ‘Tôi đi tà tà quanh rạp và cố tìm các ấn tượng khác... Đây rồi!, chỗ bán đồ chơi trẻ em. Nổi bật lên là món đồ chơi ‘Batman’ (Người Dơi), tôi không ngờ là hình tượng Batman ở bên Mỹ lại ‘dọt’ xuống một vùng quê có thể nói là xa xôi hẻo lánh này ở VN như vậy!... Tôi cũng có nghĩ là ta xây dựng đầy ‘tượng đài anh hùng’ hay đặt đầy tên đường với ‘tên của các vị anh hùng’, nhưng có lẽ người anh hùng mà thâm nhập vào cái hạ tầng cộng đồng ở ta lại là một người khác!’…

Ôi, ta sinh ra đời chỉ có huậy phá, là ‘đối tượng hình sự nặng’, chả làm nên cái tích sự gì cho con người! Ôi, ta có phải như tay Batman hay Spiderman kia đúng là kẻ ‘thế thiên hành đạo’ thứ thiệt - ‘thấy chuyện bất bình rút đao tương trợ’, nên được người Mỹ phong là ‘vĩ đại nhất trong mọi thời đại’! Ôi, có một số phụ nữ khen ta là ‘Nói thật, anh Chí Phèo vẫn còn hơn khối thằng khác’ (HC Hoang Cuc), ừ, ta được cái là rất hiện thực và… dũng cảm, dám nghĩ, dám nói, nên được cụ Wikipedia khen rằng:
- Ai cũng muốn đái vào cái miếu đã mất thiêng nhưng không dám đái, thì có Chí Phèo đái hộ. (Ha..ha..ha…, thướng quá!)
Ôi, ta sống vào cuối thời hoàng đế Bảo Đại (1941), được bọn ‘hậu bối nô’ đời sau bình là sở dĩ ta sống không lương thiện là bởi vì cái thằng cha ‘xã hội cũ’!, híc..híc…, nhưng thiết nghĩ ta cũng gấp trăm mấy cái thèn choa Lông Chiêu Thế, nên các ngươi muốn học ta thì cứ học: học cái ‘khí phách... Việt’ của ta và thông cảm cho những số phận bần cùng!
Bọn họ ca ngợi ta như vậy, ô-kê thôi!, nhưng ta tự hỏi rằng (Hình 4):
Kết quả hình ảnh cho Chí Phèo, Thị Nở- Thời này liệu rằng sẽ có ai yêu người đẹp như… Thị Nở! Và nếu bây giờ ta xuất hiện ngoài quán nhậu, các ngươi có sẵn sàng… kết nghĩa huynh đệ với ta không?

(HẾT)
---------
Chú dẫn:
1.       Bài viết của Nguyễn Sóng Hiền, xem thêm: https://nhagomlabang.blogspot.com/2017/12/1043-chi-pheo-duoi-cap-mat-2017-thu-gian.html
2.       ‘Chí Phèo’ là một truyện ngắn nổi tiếng của nhà văn Nam Cao viết vào năm 1941, là một tác phẩm (hiện thực) xuất sắc, thể hiện nghệ thuật viết truyện độc đáo của Nam Cao, đồng thời là một tấn Bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội... (wiki)
3.       ‘Cuộc đời chị Phụng 2015’, xem thêm: http://nhagomlabang.blogspot.com/2015/10/753-toi-gap-chi-phung.html
4.       Hạng Thác, xem thêm: http://nhagomlabang.blogspot.com/2014/09/600-da-chau-la-khong-tu.html
5.       Nhà văn kiếm hiệp Lang Truong 1: https://www.facebook.com/lang.truong.16752/posts/2037161073188095
6.       Nhà văn kiếm hiệp Lang Truong 2: https://www.facebook.com/lang.truong.16752/posts/2039262342977968
7.       Nicolas Copernic (1473 - 1543) sinh tại thành phố Torun (Vương quốc Ba Lan)… Năm 1497, Copernic ở nhà một giáo sư Toán Novara là một trong những người đầu tiên điều chỉnh  cho chính xác khoa địa lý của  Ptolémée và đã khuyến khích ông rất nhiều trong ngành Ðịa lý và Thiên văn… Năm 1517, ông bắt đầu tác phẩm chính của ông: ‘De Revolutionibus Orbium Coelestium’ (Chuyển động quay của những thiên thể)… Ông gởi tặng một bản cho Giáo hoàng Paul III, để tránh sự trừng phạt của giáo hội, ông giới thiệu hệ thống của ông là một lý thuyết thuần túy… Năm 1633, mặc dù Galilée bị buộc tội trước tòa án La Mã nhưng có vài triết gia thời bấy giờ vẫn chấp nhận lý thuyết Copernic. Khoảng cuối thế kỷ XVII, nhờ  Isaac Newton, phần đông những  bác học theo Copernic… (khoahoc.tv)
8.       Thành Đại La: là một thành trì, thủ phủ của An Nam đô hộ phủ thời Nhà Đường trong hai tk 8-9. Thành nằm ở vị trí giữa Thành Hà Nội và sông Tô Lịch, thuộc quận Ba Đình hiện nay… Theo truyền thuyết, do thành xây đi xây lại vẫn bị sụt ở vùng sông Tô Lịch, Cao Biền đã cho trấn yểm tại đây để làm cho đất vững và chặn dòng long mạch của vùng đất này. Các di chỉ tìm được trong lòng sông tháng 9 năm 2001 được một số nhà nghiên cứu cho là di tích của bùa yểm này. Năm 1010, vua Lý Thái Tổ đổi tên phủ thành Đại La là thành Thăng Long. (wiki)
9.       Tràng An, Ninh Bình: Thực ra, Tràng An và Bái Đính, có thể nói, cũng là một. Cả 'Khu tâm linh Bái Đính + Khu du lịch sinh thái Tràng An’ này rộng đến 12.000 ha, thuộc địa bàn các huyện Gia Viễn, Nho Quan và tp Ninh Bình. Thăm khu du lịch sinh thái Tràng An, các cháu thế hệ 9X cho rằng, rất có lợi vì nó sẽ giúp chúng biết thêm chi tiết về 'thuở ban đầu' của lịch sử Việt Nam như: Cố đô Hoa Lư, chuyện Đinh Bộ Lĩnh cờ lau tập trận, 12 Sứ quân, 'Giám sát đại tướng quân', 7 vị 'trung thần', các danh tướng như Nguyễn Bặc, Đinh Toàn!, chuyện Trần Thái Tông tu ở Đền Trần!, chuyện 'hậu duệ' của cây thị ngàn năm!... Những con sông Tràng An ngoằn ngoèo đi thuyền hoài không hết, dẫn vào các hang động bí ẩn… Xem thêm: http://nhagomlabang.blogspot.com/2014/02/514-tet-o-viet-nam-va-triet-ly-tren.html