Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài giảng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bài giảng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 7, 2022

1661. 'The trip to the West'...

 Đăng ngày 10/7

Mấy hôm nay.. rộ thời sự về vụ ông Abe Shinzo bị ám sát, hay vụ ông Sri Lanka 'vỡ nợ Tung Của' bị dân rượt bỏ chạy mất dép..., nhưng thôi, dưới đây tôi kể chuyện 'ông Tàu bỏ chạy' cho dzui!
---
Hồi xưa hay đi chơi với mấy thằng Tây, tôi muốn chém gió tí về 'Tây du ký' mà chả biết nói 'từ tiếng Anh' gì cho nó hiểu, chợt tôi bung ra 'Monkey God' (Tề Thiên Đại Thánh), nó liền 'à' lên rồi nói 'The trip to the West' (Tây du ký), thế là tôi học được mà.. đéo cần phải tra Wikipedia, kkk...
Sau đó.. có lần nhậu với một chuyên gia người Tàu quê ở Sơn Đông của Khổng Tử (dĩ nhiên là nói chuyện bằng tiếng Anh)..., tương tự như lần trước nói 'Mao Trạch Đông' mà mấy thằng Tây đéo hiểu..., lần này tôi nói 'Khổng Tử', anh ta cũng đéo hiểu!...,
rồi 'Tôn Tử', anh ta cũng đéo hiểu nốt, tôi phải nói đi nói lại 'Chinese famous general, above two thousand years ago, something like that' (danh tướng Tàu, cách đây trên 2000 năm.. gì gì đó), lúc đó anh ta mới 'à' lên và nói là 'Sūn zĭ'..., rồi bảo tôi là bên Tàu phát âm 'Tôn' là 'Xung', nên họ Tôn (Tôn Ngộ Không, Tôn Trung Sơn...) đúng ra phải nói là 'Xung' thì may ra người Tàu mới.. hiểu, hahaha...
...Tôi biết có một số học giả muốn 'bảo lưu' Hán Việt, ok, no problem, good!, nhưng.. thực chiến đã chỉ ra rằng.. mình phát âm tiếng Hán mà chính người Hán lại đéo hiểu!, huống gì là tụi Tây!
Vì vậy, về mặt nào đó thì việc có thói quen dùng 'Hán Việt' ở ta - khi tiếp cận với thế giới - nhiều khi lại tỏ ra rất là.. nguy hiểm!...
*
Dưới đây là một stt mà tôi cho là tổng hợp ngắn, gọn, nhưng rất dễ hiểu:
TÂY DU KÝ VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH ĐIỂN
VTV2 đang phát lại phim Tây Du Ký. Ngẫm thấy ông Ngô Thừa Ân cũng thâm nho thâm Tàu ra phết, viết truyện gì mà mấy trăm năm sau mới hiểu được:
- Những yêu quái có số má chuyên hãm hại dân lành... thì toàn là con cháu hoặc thân cận của các quan Thiên đình.
- Yêu ma quỷ quái dẫu có tàn ác đến đâu thì cũng chả bị sao, cùng lắm là kiểm điểm nghiêm túc và rút kinh nghiệm sâu sắc. Cụ thể là cứ khi lão Tôn chuẩn bị ra tay trừng phạt thì y như rằng lại xuất hiện một người có vai vế đến can thiệp, bảo để mang về xử lý nội bộ, nhưng rồi xử lý thế nào thì có trời mới biết!
- Kẻ tích cực trừ gian diệt ác như Tôn Ngộ Không thì lại bị ngay cái vòng kim cô trên đầu, hễ mạnh tay tí là bị cấp trên siết thấy mẹ, có khi còn bị đuổi ra khỏi ngành.
- Người chả có tí bản lĩnh tài cán gì như ông Đường tăng thì lại được làm lãnh đạo. Có người lý giải vì nọ vì kia, nhưng thực tế nếu không có sự sắp đặt của những người (có) quyền lực như Bồ tát thì còn lâu mới... có cửa!
- Đoàn đi lấy kinh nếu không có ông Sư phụ thì chắc chắn sẽ đi nhanh hơn. Thế có nghĩa là, sự có mặt của lãnh đạo bất tài thì chỉ có tác dụng kìm hãm sự phát triển.
- Bát Giới vừa ngu vừa lười nhưng lại giỏi nịnh bợ, kết quả là luôn được ăn no ngủ kỹ. Còn Sa Tăng thật thà thẳng thắn thì suốt đời thua thiệt, phải đi bưng bê sấp mặt.
- Hối lộ có mặt ở khắp nơi. Ngay cả trên đất Phật thì vẫn phải hối lộ cái bát vàng mới xong việc.
- Ơn huệ đôi khi cũng cần phải "xét lại". Mỗi lần gặp nạn được Bồ tát cứu giúp thì thầy trò cảm thấy "ơn Phật, ơn Bồ tát" lắm lắm. Nhưng đâu biết rằng 90% tai ương là do những bề trên đáng kính đó gây ra!
- Đàn bà đẹp đa phần là yêu quái độc ác, dây vào có khi mất mạng!
- Không phải thầy tu nào cũng từ bỏ được dục vọng. Có ông sư chuẩn mực như Đường tăng thì cũng có những ông sư tham ăn, hám gái như Bát Giới.
- Nhân vật thông minh, tài giỏi, trung thành, tốt bụng, cương trực, được việc... và cũng là nhân vật được yêu mến nhất, thì lại là một con khỉ chứ không phải người...
(fb Mai Quang Hiền)
*
Tôi kết nhất hai đoạn:
- Ơn huệ đôi khi cũng cần phải "xét lại". Mỗi lần gặp nạn được Bồ tát cứu giúp thì thầy trò cảm thấy "ơn Phật, ơn Bồ tát" lắm lắm. Nhưng đâu biết rằng 90% tai ương là do những bề trên đáng kính đó gây ra!
- Đàn bà đẹp đa phần là yêu quái độc ác, dây vào có khi mất mạng!
.Chim ơi! chim chớ nhìn dáng ngọc
Chết lịm hồn chim, rớt.. chiều tà
...Đừng nói 'cầm' hay 'hồ điệp' gì hết, mà hãy nói chim là 'bird' hay bướm là 'butterfly' thì tụi Tây sẽ hiểu ý ngay!
Hahaha...

1660. Học tí cho.. vui: Vì sao gọi là Nhật Bản?

 Đăng ngày 9/7

Nhân vụ.. đại anh hùng.. Abe Shinzo mất.. được nhiều người thương tiếc..., vì sao gọi là Nhật Bản?
.Nhật Bản: Nghĩa của 'nước Nhật' là đất nước mặt trời mọc, có thể xuất phát từ tiếng Nhật cổ 'Kanji' là gốc của mặt trời...
Xưa bên Tàu thường gọi là 'Oa Quốc' (nước Oa, 'oa' là lùn) hay 'Đông Doanh' (thời Từ Hải, Hồ Tôn Hiến, hay những nhân vật hư cấu như 'Sở Lưu Hương', 'Lệnh Hồ Xung/Đông Phương Bất Bại'),
hay gọi với cả đống tên như Phù Tang, Đại Hoà, Nhật Bản Quốc, Nhật Bản đại đế quốc... gì gì đó, còn 'Nhật Nhĩ Man' lại là nước.. Đức, hahaha:
-Đậu phụng nó cái thứ tiếng 'Háng cmn Vịt', rất lộn xộn!...
Ở VN có gọi là (xứ sở) 'Phù Tang' - tức cây Phù Tang (扶桑), một loại cây dâu ở bên Nhật... Sau đó, VN chính thức gọi là Nhựt, Nhựt Bổn rồi Nhật Bản, rồi ngắn gọn là 'Nhật'...
...Tôi có đọc một số cuộc điều tra.. trên mạng, cho rằng: 1) Có 95% người Tàu không thích người Nhật và ngược lại..., 2) Có 95% người Hồng Công không thích nhập vào Trung Hoa đại lục..., 3) có 95% người Đài Loan muốn 'separated' - tức không thích Tàu+, muốn 'tách biệt' khỏi đại lục.. vĩnh viễn!...
Có lẽ vì thế mà mở Youtube ra thì thấy bọn Tê Cu toàn chiếu phim Tàu và Nhật đánh nhau 'chíu chíu đùng đùng', hahaha...
Ngoài ra...
.Anh (England): Từ chữ Anh cổ là 'Engla Land' hay 'Englaland' tức là 'vùng đất Engla', hay 'vùng đất cấm người Angles'...
Người Tàu gọi là 'Dinh ghé làng' (英格蘭) hay 'Dính gái lì' (英吉利)...
Trước đây người VN có gọi theo kiểu Tàu là 'Anh Cách Lan' hay 'Anh Cát Lợi', hay thường gọi theo tiếng Pháp là 'Ăng lê' (nước, tiếng, người...), sau gọi ngắn là nước 'Anh', tiếng 'Anh'...
.Chi Lê: Chili là tương ớt..., nhưng 'Chilli' (hai chữ 'en lờ'), hay 'Chile' tiếng thổ dân Mapuche ở Nam Mỹ có nghĩa là 'nơi tận cùng của thế giới' - một cách gọi của những người ở vùng đất từ Tây Argentina tới bờ biển cực nam Chi Lê.. mép Thái Bình Dương...
Hay, 'Chile' có thể là tên của một loài chim ở Nam Mỹ...
.Nga: Ngắn gọn..., được người Tàu gọi là 'Nga La Tư' hay 'Nga La Sát' - phản ánh trong truyện 'Lộc đỉnh ký', trong đó, Khang Hi, Vi Tiểu Bảo gọi là nước 'La Sát'..., hay trong truyện 'Lục Tiểu Phụng' có 'La Sát Lệnh' và cụm từ 'Tây Phương giáo chủ' (Pu điên!)...
Và buồn cười, có vụ sau 1991, miền Bắc gọi Nga là 'Nga thúi', nay trên Pha Kê Bốc có khi gọi là.. 'Nga ngố', kkk...
.Tàu: Xưa nay VN gọi là 'Tàu' (từ 'tàu hũ' hay 'tào phớ'!), rồi có thể 'Trung Hoa' hay 'China', nay có một lối gọi không.. chính danh là 'Trung Quốc'!... Trải qua khoảng 2/3 thời gian lịch sử 'loạn thế', 'liệt quốc' và 'bị mất nước' liên tục, nó còn có tên, ví dụ như, nước Tống, nước Nguyên, nước Minh, nước Thanh, rồi lại nước.. Tàu... Nay giới 'tinh cmn hoa' gọi là nước Giữa, nước Lạ hay nước.. Ngoài!... Trên Pha Kê Bốc gọi là 'Tung Cẩu' hay.. 'nước gì phọt ra ở chính.. Giữa?', kkk...
.Tây Ban Nha: Tiếng bản xứ là 'España', xuất phát từ tiếng La tinh 'Hispania' là một loài thỏ ở Địa Trung Hải... Thời Nguyễn gọi là 'Y Pha Nho'... Người Tàu (Hán) thường phiên âm bỏ nguyên âm đầu nên chỉ còn 'Spaña', đọc là 'Xì bà già' (西班牙)...
Sau vụ 'hấp diêm em 17' gì gì đó, chưa rõ!, trên Pha Kê Bốc gọi là.. 'Tây Bán Nhà', kkk...
Và...
.Canada: 'Theo bản phổ biến nhất, khi nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier dong thuyền đi qua sông St. Lawrence, hoa tiêu bản địa nói với ông rằng đây là đường để tới Kanta - một ngôi làng. Cartier có lẽ do hiểu nhầm nên gọi vùng đất này là 'Canada'! (m-afamily-vn)... Trước đây VN gọi là 'Gia Nã Đại', nay gọi là thẳng là 'Canada' hay:
-'đi K/đi Ca' (tiếng lóng).. là tham nhũng rồi bỏ trốn mẹ nó qua Canada, hahaha...
Tàm tạm vậy!


Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

Lời bình cho bài viết về 'Kinh Dịch' của GS Nguyễn Lân Dũng

Chào GS,
Trước đây tôi rất ân hận là… cả đời mình không hiểu về Kinh Dịch, vì đọc các sách dài dòng và rối rắm quá, tôi hỏi nhiều người nhưng… chả có ai chỉ cho. Tối ngày 21/1/2013, vô tình đọc được 1 trang viết về Kinh Dịch của GS mà tôi chợt hiểu… cơ bản (sr). Tôi nghĩ rằng mình phải hiểu theo cách của mình chứ theo ông Ngô Tất Tố hay Nguyễn Hiến Lê thì sẽ… mất mấy chục năm!
Sáng hôm sau, ra quán cà phê, tôi mới đem lại điều mới phát hiện nói lại cho 1 thầy dạy đại học và 1 kiến trúc sư, cả 2 người đều thở phào nhẹ nhỏm và nói: ‘hiểu như thế là quý lắm rồi, còn hơn là hoàn toàn không hiểu gì cả mà còn bị người ta… ăn hiếp nữa’…
Tôi xin ghi lại cuộc nói chuyện trong quán cà phê ở Chợ Bà Chiểu vào sáng ngày 22/1/2013 nhé.
Trân trọng cám ơn GS,
NGLB.
(PS: Tôi chỉ viết bên Blogspot và Facebook với nick là Nhà gom lá bàng)
Kinh Dịch trong tiếng Anh viết đơn giản là ‘the Book of Changes’ (cuốn sách nghiên cứu về sự biến đổi) - một tên gọi của nhà nghiên cứu Richard Rutt và trong các luận án tiến sĩ của Richard Kunst và Edward Shaughnessy. Còn ở VN (Trung Quốc hay nhiều nước trên thế giới), cuốn sách mà được người ta ‘tôn thờ’ hay ‘lấy làm nền tảng’ (đặc biệt là về triết học hay tôn giáo) thì gọi là ‘kinh’ hay kinh điển. Nói nôm na, ‘kinh’ là một cuốn sách, còn ‘dịch’ là biến đổi. Ngoài ra, ‘dịch’ còn có nghĩa là con kỳ nhông (Caméléon), vì nó thường ‘biến đổi’ màu sắc theo môi trường bên ngoài.

Tư tưởng cơ bản của Kinh Dịch là ‘trong vũ trụ này, chỉ có một thứ duy nhất không biến đổi, đó là sự biến đổi’, bởi vì sự vật luôn luôn biến đổi. Cơ sở của Kinh Dịch là khái niệm âm dương và ngũ hành. Âm dương được mô tả nằm trong một cái vòng tròn thái cực, có 2 hạt nhân trong mỗi phần âm và phần dương, mặt tiếp xúc/giao diện giữa âm và dương được gọi là ‘giao giới’ có chức năng trung hòa sự chuyển hóa giữa âm và dương (mà cũng là nơi sôi động nhất và là ‘nguồn cảm hứng’ của vũ trụ vạn vật, theo ý kiến của một blogger ẩn danh). ‘Bát Quái là tạm tướng chính của Âm Dương, sinh hóa ra Ngũ Hành’ gồm kim, mộc, thủy, hỏa và thổ, trong đó thủy sinh mộc, mộc sinh hỏa, hỏa sinh thổ, thổ sinh kim, kim sinh thủy (tương sinh) và mộc khắc thổ, thổ khắc thủy, thủy khắc hỏa, hỏa khắc kim, kim khắc mộc (tương khắc), ngũ hành có quan hệ đến các mùa, màu sắc, ngũ tạng, bát quái...  Ngoài ra, về bản chất thì ‘Phép biện chứng’ hay Kinh Dịch là như nhau!, tuy nhiên, dường như Phép biện chứng thiên về việc nghiên cứu quy luật vận động của xã hội loài người, tư duy hay thế giới hơn, trong khi Kinh Dịch thiên về việc nghiên cứu sự dịch biến của ‘vô số chuyện trên đời’ hơn và tượng hình hơn.
Kinh Dịch không phải là do Khổng Tử sáng tạo, mà hầu như là một tài sản trí tuệ của các dân tộc sống ở phía Nam sông Dương Tử (hay Trường Giang, khu vực Hồ Động Đình), nó xuất phát từ thời Tam Hoàng (thuộc Trung Hoa thượng cổ, 2852-2738TCN), thậm chí xuất phát từ Việt Nam.
Có huyền thoại rằng ‘vua’ Phục Hy là người sáng tạo ra Bát Quái - Đồ hình hà đồ (hay Tiên thiên bát quái). Sau đó Kinh Dịch được tiếp tục phát triển thời Hạ, Thương, Chu (2205TCN-256), trong đó, thời vua Văn Vương (1090-1050) có ‘Đồ hình lạc thư’ (hay Hậu thiên bát quái) chủ yếu nói về ‘thời thế, vận mạng’. Thời Xuân Thu, Khổng Tử (551-479TCN) đã tổng hợp và chú giải thành bộ Kinh Dịch (một trong ‘Ngũ Kinh’ gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu) mà đã trở thành cuốn kinh điển triết học có hệ thống.
Kinh Dịch may mắn là một loại sách mà Tần Thủy Hoàng (259-210TCN) không hạ lệnh đốt. Kinh Dịch có bị lãng quên vào thời nhà Đường (618-907), khi mà Phật giáo trở thành quốc giáo. Sau đó, Kinh Dịch được quan tâm hơn vào thời nhà Tống (960-1279) và liên tục phát triển cho đến ngày nay. Ở Trung Quốc trước đây có các học giả như Trình Tử, Chu Hy hay Thiệu Tử/Thiệu Khang Tiết (thời Tống), Hồ Quảng và Kim Âu Tu (thời Minh), rồi gần đây là Phùng Hữu Lan, Tiêu Diên Thọ, Trương Chí Thiết, Trương Thiện Văn, Hoàng Thọ Kỳ, Vi Chính Thông…, ở phương Tây có nhà toán học Leibnitz, rồi Schumacher, Kunst, Shaughnessy, Marshall, Rutt… Ở Việt Nam trước và sau giải phóng có Phan Bội Châu, Ngô Tất Tố, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Hoàng Phương…, trong đó bản của Ngô Tất Tố được đánh giá là đạt nhất (theo Nguyễn Lân Dũng), cũng có người thích bản của Nguyễn Hiến Lê, còn bản của Nguyễn Hoàng Phương rất khó hiểu (toán học)....
Năm 1970, các nhà khảo cổ đã đào từ một ngôi mộ thời Hán (trong mộ của Mã Vương Đôi, xây vào thế kỷ thứ 2) được bản Kinh Dịch gần như còn nguyên (kể cả ‘Đạo đức kinh’) và hầu như không có sự khác biệt về nội dung so với các bản hiện nay.

Cụ thể hơn, trước mắt có thể hiểu như như sau: ‘Thái cực sinh lưỡng nghi, lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái, bát quái sinh vạn vật (ngũ hành)’ từ Lão Tử, Trang Tử, hay trong bài giảng của Diệt Tuyệt Sư Thái cho Chu Chỉ Nhược (Ỷ thiên đồ long ký).
-Vô cực: Trước Thái cực là Vô cực, còn được gọi là hư vô, vô vi hay chân không (vacuum), là trạng thái tiên thiên của vật chất. Có thể hình dung ‘Vô cực’ như trạng thái trước vụ nổ ‘big-bang’ trong vật lý vậy.
-Thái cực được xem như là thuở ban đầu/uyên nguyên của vũ trụ vạn vật. Có thể hình dung như trạng thái ngay sau vụ nổ ‘big-bang’ trong vật lý vậy, lúc đó vũ trụ đang ở trong trạng thái hỗn mang (chaos).
-Lưỡng nghi là Dương và Âm, trong đó Dương được biểu diễn bằng 1 vạch (‘nghi’ hay ‘hào’) liên tục (-), còn âm được biểu diễn bằng 1 vạch gián đoạn (- -).
-Tứ tượng là Thái dương, Thiếu dương, Thiếu âm và Thái âm, bằng cách chồng 2 vạch lên nhau (=2 bình phương).
-Bát quái là 8 quẻ đơn (‘kinh quái’) gồm là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Khảm, Cấn và Khôn, bằng cách chồng thêm 1 vạch âm hoặc dương lên trên nữa. Từ ‘quái’ để chỉ 8 hiện tượng/nguyên tố trong vũ trụ là ‘trời, đầm, lửa, sấm, gió, nước, núi, đất’ hay ‘Tây Bắc, Tây, Nam, Đông, Đông Nam, Bắc, Đông Bắc, Tây Nam’. Trong Ngũ hành, càn và đoài thuộc ‘kim’, ly thuộc ‘hỏa’, chấn và tốn thuộc ‘mộc’, khảm thuộc ‘thủy’, cấn và khôn thuộc ‘thổ’.
-Sáu mươi tư quẻ kép (‘biệt quái’, trong toán học gọi là ‘tổ hợp’) là do người ta chồng các quẻ đơn lên nhau từng đôi một thành 6 hào (vạch) hay thành 64 quẻ kép (=2 lũy thừa 6), bắt đầu từ quẻ đầu tiên là ‘Thuần càn’ đến quẻ 64 là ‘Hỏa thủy vị tế’. Và trong đó 3 hào dưới gọi là ‘nội quái’, còn 3 hào trên gọi là ‘ngoại quái’, sự thay đổi chung của cả hệ là do sự tác động tương hỗ giữa bên trong và bên ngoài. Các quẻ từ 1-30 được gọi là ‘thượng kinh’ hay ‘đạo của trời đất (vì có 2 quẻ đầu tiên là càn và khôn), còn các quẻ từ 31-64 được gọi là ‘hạ kinh’ hay ‘đạo của vợ chồng (vì có 2 quẻ đầu tiên là Hàm (tình yêu) và Hằng (vợ chồng). Ngoài ra, Tiêu Diên Thọ còn chồng các quẻ kép lên nhau để thành 64x64=4096 quẻ, nhưng ít ai theo vì quá phức tạp (theo Nguyễn Hiến Lê).

(Trong phép tính tổ hợp, có thể hình dung là với 2 chữ a, b (lưỡng nghi) ta sẽ xếp được 4 cặp đôi (tứ tượng) là aa, ab, ba và bb (=2 bình phương), nếu thêm a, b vào nữa thì ta sẽ có có 8 cặp 'ba' (bát quái) là aaa, aab, aba, abb, baa, bab, bba và bbb (=2 lũy thừa 3). Tương tự, với 8 chữ a,b,c,d,e,f,g,h, ta có thể xếp được 64 cặp đôi (=2 lũy thừa 6). Trong bảng mã Unicode, các ký hiệu của các quẻ trong Kinh Dịch nằm từ 4DCO đến 4DFF (19904-19967). Ngoài ta, các quẻ trong Kinh Dịch còn được đưa vào hệ thống đếm cơ số nhị phân (nhà toán học Leibniz, năm 1703).

Có một số điểm tương đồng giữa Trần Ngọc Thêm (cuốn ‘Cơ sở văn hóa Việt Nam’) và Thế Trung…, nhân tiện, mình xin trích một đoạn (đã được sửa vài lỗi chính tả): 'Triết lý Âm Dương của Việt tộc đã có trước khi họ có chữ viết cho nên nó được tóm tắt trong ba câu ngắn gọn: Âm Dương (2) sinh Tam Tài (3), Tam Tài sinh Ngũ Hành (5), Ngũ Hành vận chuyển vô lường (2-3-5). Hà Đồ liên hệ chặt chẽ với Ngũ hành vì Ngũ hành gồm có Đông, Tây, Nam, Bắc và Trung tâm nơi con người đứng. Nó khác với thuyết Âm Dương (Yin Yang) của Tàu là “Lưỡng Nghi (2) sinh Tứ Tượng (4), Tứ Tượng sinh Bát Quái (8), Bát Quái vận chuyển vô lường (2-4-8)”. Danh từ “Yin Yang” không phải ngôn ngữ của Tàu. Nó được vay mượn của dân bản địa vùng Nam Á. Trước khi mượn danh từ, lẽ dĩ nhiên họ đã "mượn" tư tưởng của thuyết Âm Dương rồi. “Yang” là “dương” nghĩa là “Trời, Thần”. “Yang” là chữ “giành” trong tiếng Mường và là danh từ thông dụng trong hàng loạt ngôn ngữ Tây Nguyên (ví dụ như “yang Sri” là thần lúa, “yang Dak” là thần nước). Chữ “Yin” (âm) chỉ “Mẹ” của các ngôn ngữ Đông Nam Á (Yana là Mẹ trong tiếng Chàm cổ; ở Huế có đền thờ Thiên lana là Mẹ Trời; Ina là Mẹ trong tiếng Giarai; và Inang là Mẹ trong tiếng Indonesia)…
Lý thuyết Âm Dương phát sinh từ nhóm dân sinh sống bằng nông nghiệp. Người nông dân có một mơ ước căn bản là tồn tại và phát triển. Vậy tồn tại và phát triển cần sự sinh sản của con người và hoa màu. Yếu tố chính của sự sinh sản của con người là Cha và Mẹ hay Nam và Nữ. Cha hay Nam là Dương. Mẹ hay Nữ là Âm. Sự sinh sản của hoa màu là do Trời và Đất. Người Việt thường nói “Trời sinh Đất dưỡng” là vậy. Trời là Dương, Đất là Âm. Con người là một thành phần trong Tam Tài. Người là âm so với Trời, nhưng dương so với Đất. Sự hợp nhất của hai cặp “Cha Mẹ” và “Trời Đất” chính là quan niệm căn bản đưa đến triết lý Âm Dương. Triết lý âm dương thể hiện cái quân bình năng động giữa hai thái cực khác nhau như nam nữ, sáng tối, nóng lạnh, chẳn lẽ, phải trái... Truyền khẩu cho rằng vào thuở nguyên sơ chỉ có một khối mênh mông thủy khí vô hình vô dạng, vô màu vô sắc trong đó hai thành tố Âm và Dương vận chuyển biến khối thủy khí thành nước, lửa, kim loại, gỗ và đất. Năm thành tố này không phải là những thành tố bất động như Tây Phương lầm tưởng mà chúng luôn vận chuyển trực tiếp hay gián tiếp cho nhau sinh ra Tam tài (Trời-Người-Đất) và vũ trụ. Đó là quan niệm cấu trúc vũ trụ của dân Bách Việt... (The Trung)'.
v..v…

Kết luận: Kinh Dịch chỉ là một mô hình, là cách mô tả/nhận thức thế giới để hành động có hiệu quả, suy cho cùng là để vươn đến chân, thiện, mỹ, nhưng không phải là cách duy nhất vì ngoài ‘nó’ còn có vô số cách khác để nhận thức thế giới.
--------------- 
Nguồn tham khảo chính:
-http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_Dịch
-http://vietsciences.free.fr/timhieu/tramhoa/kinhdich.htm
-http://hoangsim.vn/sim-so-dep/kinh-dich-la-gi-y-nghia-cua-kinh-dich.html
-http://diendan.lyhocdongphuong.org.vn/bai-viet/25848-7-cac-nha-nghien-cuu-trung-hoa-uc-da-nhac-den-bo-chu-khoa-dau-cua-nguoi-viet-tu-tren-4000-nam-truoc/
Và nhiều tài liệu khác trên mạng.

Thứ Hai, 14 tháng 10, 2013

465. 'Thần' Linga và giao giới

Sáng nay tôi thấy kiến bầy
Kiến còn ham sống, sao tôi muốn... về
Nếu ai có hỏi: lạ kỳ?
Ngài sinh: không muốn!, ngài đì: không hay!


Về cái vụ ‘Linga’ này, mình biết cách đây hơn 10 năm, sáng hôm nọ, mình bỗng nhớ lại, vì trên ti-vi có một nhà nghiên cứu (về văn hóa Cham) đã nhắc đến nó… Và lưu ý rằng bài viết này là để cho các blogger ‘thư giãn’ thôi nghen.
Trước khi bắt đầu câu chuyện, mình xin nói một tí về vấn đề 'không-thể-biết', giả sử ‘quên’ hết sách vở, thiết nghĩ rằng: (có lẽ) kinh sách của các môn phái là các chuyện thần thoại dân gian cổ xưa được ghi chép lại, được chính con người ‘bác học hóa’ với ma quỷ, thần thánh, thiên đường, niết bàn = cái mà 'tôi không biết', mà đôi khi chưa khoa học và được chỉnh sửa cho phù hợp với thời @, thậm chí có môn phái đã bị diệt vong, sau đó, do sự phát triển của lịch sử, đặc biệt là do phe ‘mạnh’ có ưu thế, mà triết lý của nó được thâm nhập ít hay nhiều vào đời sống tinh thần và trở thành đức tin thiêng liêng của con người... 
Ông Trần Kiêm Đoàn, tiến sĩ triết bên California!, có viết: ‘Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 20 tôn giáo lớn có tín đồ từ 2 tỷ cho đến 1 triệu người và khoảng 350 giáo phái’ (entry 463, đường dẫn bên dưới)... Đó là các tôn giáo cơ bản mà có thể xếp hạng theo kiểu ‘Liên đoàn bóng đá FIFA’, chứ thật ra, có thể có đến… 35000 giáo phái với quy mô lớn nhỏ khác nhau trên thế giới mà được xây dựng trên nền tảng của các chuyện thần thoại.
*

Quay lại chuyện các điêu khắc về Linga/Yoni và tín ngưỡng phồn thực (phồn: nhiều, thực: sinh sôi nảy nở).
Như đã nói, sự phát triển của các môn phái ‘dâng lên theo cơn lũ’ của sự phát triển của lịch sử, có nghĩa là ở thế kỷ này thì môn phái A mạnh, đến thế kỷ khác thì môn phái B mạnh, đến thế kỷ khác nữa thì môn phái C mạnh…, hay nói nôm na là nếu nước Mỹ (hay Anh, Pháp, Đức, Ý…) bị sụp đổ thì sẽ chắc chắn sẽ có một môn phái nào đó bị sụp đổ theo.
Ngày xưa, xưa lắm, ở nền văn minh Ấn-Hằng (kể cả nhiều nước ở Đông Nam Á) và ở các nền văn minh khác hàng ngàn năm trước Công Nguyên, người ta thờ... cơ quan sinh dục (còn được gọi là ‘sinh thực khí').
Các điêu khắc về Linga và Yoni nay vẫn còn lưu lại ở Quảng Nam, Đà Nẵng, Bình Định, Đaklak, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, ngoài ra còn có các hình thức tương tự ở Bắc Ninh, Hoà Bình, Phú Thọ, Yên Bái…: ví dụ như ở Cổ viện Chàm Đà Nẵng, các ‘thánh địa’ như Bằng An, Chánh Lộ, Linh Thái, Mẫm, Mỹ Sơn, Thủ Thiện, Trà Kiệu, và các tháp/đền như Pô Klông Garai, Pônagar, Pô Nư Kần, Pôrômê, Pô Sanư…
Mình đã tận mắt chứng kiến các biểu tượng tôn thờ dương vật ở các ngôi mộ ở Buôn Đôn (hay EaSup, Đaklak) và ở Lầu Ông Hoàng (nơi Hàn Mặc Tử đã từng bị nhốt)… Ngoài ra, hình ảnh ‘cái chày và cái cối’ chắc cũng… loanh quanh đâu đó (xem hình trên).
*
Có một tiến sĩ Hàn Quốc là Joo Kang Hyun cũng bỏ cả đời nghiên cứu về 'tín ngưỡng phồn thực' và cho rằng:
1. Các ngư dân (nam) ra biển thường bị bão và chết, họ cho rằng họ bị hại bởi 4 ma nữ chết trẻ đang tràn đầy sinh lực - đứng đầu là 'son-kak-si', nên họ cúng ‘của quý’ để cầu mưa thuận gió hòa;
2. Phụ nữ ở thành Seoul, cuối thời kỳ Cho Son, vì hiếm con trai (do trọng nam khinh nữ) nên hay lên chùa cầu phật Di Lặc, có linh nghiệm, nên họ thay tượng phật bằng tảng đá Di Lặc, rồi do quá trình phong hóa, tảng đá này dần dần có hình như cái sinh thực khí của nam;
3. Tại thôn Mu-do, thành phố Je-ceon, tỉnh Chung cheong, có một tảng đá to, có một cái lỗ ở chính giữa, nếu dùng gậy mà chọc vào cái lỗ đó thì gái làng sẽ bị bệnh cuồng dâm và loạn luân, nên dân làng thờ ‘hòn đá’ này;
4. Ở Won-beak, thành phố Jung-ub, tỉnh Jeol-la, có một vách đá, ở giữa có suối chảy ra trông guống như cơ quan sinh dục nữ (dân làng gọi đó là ‘tảng đá tè hè’), mà nếu làng đối diện trông thấy thì con gái trong làng sẽ bị chửa hoang, vì thế dân làng phải thờ một bộ phận sinh dục nam gần đó để khử ‘dâm phong’ (inas.gov.vn).

Giả thiết thì vẫn là giả thiết, nhưng giả thiết của tiến sĩ Joo Kang Hyun nghe có vẻ là tín ngưỡng của người cổ đại hơn, vì họ thờ cúng những vị ‘thần’ đem lại cái lợi hay cái hại cho họ, ví dụ như ngày xưa ở Tàu có tục cúng Hà Bà, rồi ném đồng nữ xuống sông cho Hà Bá 'hưởng thụ', hay ở Việt Nam có tục thờ cúng ‘Cá Ông’ vậy…
* 
Dưới đây là trích dẫn từ một số nhà nghiên cứu:
a. Thời xa xưa, để duy trì và phát triển sự sống, ở những vùng sinh sống bằng nghề nông cần phải có mùa màng tươi tốt và con người được sinh sôi nảy nở. Để làm được hai điều trên, những trí tuệ sắc sảo sẽ tìm các quy luật khoa học để lý giải hiện thực và họ đã xây dựng được triết lý âm dương, còn những trí tuệ bình dân thì xây dựng tín ngưỡng phồn thực.
Tín ngưỡng phồn thực ở Việt Nam được thể hiện ở hai dạng: thờ cơ quan sinh dục của cả nam lẫn nữ và thờ hành vi giao phối, khác biệt với một số nền văn hóa khác như Ấn Độ chẳng hạn, chỉ thờ sinh thực khí của nam mà thôi… Việc thờ sinh thực khí được tìm thấy ở trên các cột đá có niên đại hàng ngàn năm trước Công nguyên. Ngoài ra nó còn được đưa vào các lễ hội, lễ hội ở làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) có tục rước cặp sinh thực khí bằng gỗ vào ngày 6 tháng giêng, sau đó chúng được đốt đi, lấy tro than chia cho mọi người để lấy may… Ngoài việc thờ sinh thực khí, tín ngưỡng Việt Nam còn thờ hành vi giao phối, đó là một đặc điểm thể hiện việc chú trọng đến các mối quan hệ của văn hóa nông nghiệp, nó đặc biệt phổ biến ở vùng Đông Nam Á. Các hình nam nữ đang giao phối được khắc trên mặt trống đồng tìm được ở làng Đào Thịnh (Yên Bái), có niên đại 500 trước Công nguyên. Ngoài hình tượng người, cả các loài động vật như cá sấu, gà, cóc... cũng được khắc trên mặt trống đồng Hoàng Hạ (Hòa Bình).

Vào dịp hội đền Hùng, vùng đất tổ lưu truyền điệu múa "tùng dí", thanh niên nam nữ cầm trong tay các vật biểu trưng cho sinh thực khí nam và nữ, cứ mối tiếng trống "tùng" thì họ lại "dí" hai vật đó lại với nhau. Phong tục "giã cối đón dâu" cũng là một biểu hiện cho tín ngưỡng phồn thực, chày và cối là biểu tượng cho sinh thực khí nam và nữ. Ngoài ra một số nơi còn vừa giã cối (rỗng) vừa hát giao duyên…Vai trò của tín ngưỡng phồn thực lớn tới mức ngay cả chiếc trống đồng, một biểu tượng sức mạnh của quyền lực, cũng là biểu tượng toàn diện của tín ngưỡng phồn thực: Hình dáng của trống đồng phát triển từ cối giã gạo, cách đánh trống theo lối cầm chày dài mà đâm lên mặt trống mô phỏng động tác giã gạo, tâm mặt trống là hình Mặt Trời biểu trưng cho sinh thực khí nam, xung quanh là hình lá có khe rãnh ở giữa biểu trưng cho sinh thực khí nữ, xung quanh mặt trống đồng có gắn tượng cóc, một biểu hiện của tín ngưỡng phồn thực… (vi.wikipedia.org).
b. Theo thần thoại về Shiva (Ấn Độ), thì vị thần này xuất hiện đầu tiên là một cột lửa hình dương vật… Các tộc người ở lưu vực sông Indus thuộc chủng tộc Sumerian và Dravidian… coi âm vật của đàn bà là nguốn gốc của mọi sự sáng tạo… Sau này, con người đã biểu tượng hóa Linga và Yoni để thờ thần Shiva, coi Linga là biểu hiện đặc tính dương, Yoni là biểu hiện đặc tính âm của thần. Dạng Linga kết hợp với Yoni hay còn gọi là Linga-Yoni được coi là biểu tượng sự sáng tạo của thần Shiva… Nhưng Linga và Yoni ở Champa có những đặc điểm riêng và không có quốc gia nào mà Linga và Yoni lại có số lượng nhiều, hình dáng đa đạng và kích thước lớn như ở Champa. Loại Linga-Yoni ở Champa là sự biểu hiện mạnh mẽ nhất việc Champa hoá các yếu tố tôn giáo Ấn Độ (yume.vn.sonputra).
*

 
Ngày nay, lễ hội phồn thực thường được tổ chức ở Nhật Bản/Hàn Quốc
Cái gì mà tự thuở khai sinh của loài người đã tôn thờ thì không sai, có chăng là với cách nhìn bây giờ thì chúng ta… sai. Vì sao?
Thực ra, các bậc giáo chủ hoàn toàn không hề đả kích chuyện tình dục, mà chỉ ám chỉ thoáng qua dưới một dạng, tạm gọi là ‘ma nữ’ (hay sắc dục), việc sử dụng từ này thuộc các chuyện thần thoại cổ xưa (trong nam khinh nữ), chả lẽ chỉ có 'ma nữ' quyến rũ đàn ông thôi à, tại sao không có ‘ma nam’, các blogger không thấy là người ta đã dùng chữ ‘tán gái’ để chỉ sự... lợi hại của đàn ông đó à? Vì:
không có chuyện đó thì không có giáo chủ nào cả,
không có chuyện đó thì không có tôn giáo nào cả,
không có chuyện đó thì hiện nay không có hơn 6 tỉ người trên thế giới này,
và chắc chắn là không có ông Obama...
Chúng ta đã có các từ như đầu, mình, tay, chân, bộ óc, dương vật, âm hộ… trong từ điển, thế thì tại sao khi nói ‘mắt, mũi, miệng’ thì không có tội, còn nói ‘dương vật, âm hộ’ là có tội? (nhưng người Nhật/Hàn Quốc không nghĩ vậy, xem hình trên). Đó là lỗi của ai đó nghĩ bậy, của đầu óc ‘Khổng-Mạnh’, của việc xài từ không đúng lúc thôi, chứ cơ quan nào trong con người cũng đều bình đẳng và đều có một vai trò quan trọng nhất định, nếu ai đó quá thù ghét nó thì ‘cắt’ nó đi thử xem! Ngoài ra, ai mà nói 'tiếng Đan Mạch' thì bị ta xem thường, nhưng Chí Phèo nói cả ngày thì được… đưa vào văn học! Lưu ý rằng nói bậy thì phải đúng lúc, nếu ai đó nói không đúng lúc thì không bị.. sưng mỏ mới là chuyện lạ, hihi...
Cuối cùng, thật 100%, có một blogger nữ (ẩn danh) nói rằng 'trong cõi âm dương, giao giới là chỗ sôi động nhất’.
Vì thế LB mới khái quát hóa lên như sau: Cơ sở của Kinh Dịch là khái niệm âm dương và ngũ hành. Âm dương được mô tả nằm trong một cái vòng tròn thái cực, có 2 hạt nhân trong mỗi phần âm và phần dương, mặt tiếp xúc/giao diện giữa âm và dương được gọi là ‘giao giới’ có chức năng trung hòa sự chuyển hóa giữa âm và dương, 
và giao giới cũng là nơi sôi động nhất và là ‘nguồn cảm hứng’ của vũ trụ vạn vật.
------------------
Các nguồn tham khảo chính:
-Giao giới: http://nhagomlabang.blogspot.com/2011/02/6-giao-gioi.html
-http://suutap.vn/dien-dan/9-chuyen-mc-kin-thc-su-tp/585-linga-a-yoni-la-gi-.html
-http://yume.vn/sonputra/article/hinh-tuong-linga-va-yoni-trong-dieu-khac-champa.35CCC646.html
-Tín ngưỡng phồn thực: http://vi.wikipedia.org/wiki/Tín_ngưỡng_Việt_Nam  
-Trần Kiêm Đoàn: http://yume.vn/thaydo09/article/trai-vo-than-tran-kiem-doan.35DFFE96.html  
Và các tài liệu khác có liên quan.

Chủ Nhật, 13 tháng 10, 2013

463. Phiếm thần luận: Biết chết liền!

Trước khi đi vào nội dung chính, LB cũng xin tâm sự tí. Số là LB có đi giảng triết, chủ yếu là cho người lớn tuổi (thầy giáo/kỹ sư - adult training) thuộc các dự án của UNDP, WB, Bộ giáo dục Hà Lan…, lai rai được 16 năm, từ 1986 đến nay. LB có viết một số entry về ‘tâm linh’, rồi nó lan dần sang chuyện bất tử/tôn giáo, mình ngại quá.
LB gặp từ ‘phiếm thần luận’ đã lâu, nhưng mới gặp lại ngày hôm qua, khi ông Einstein phát biểu rằng ‘Tôi không phải là một người vô thần, và tôi không nghĩ tôi có thể gọi mình là một người phiếm thần luận’, chắc với ý nghĩa là ông xem vũ trụ là ‘thượng đế’ với các quy luật vận động của nó (như định luật vạn vật hấp dẫn hay định luật của thuyết tương đối chẳng hạn), nhưng 
triết gia mà được ông thích có lẽ là Spinoza!, vậy Spinoza là ai? Vì các vấn đề trên mà LB mới viết bài này.
Và khi chuẩn bị viết, có ‘duyên’ được biết entry ‘Trại Vô Thần’ của tiến sĩ triết Trần Kiêm Đoàn, LB mới biết là các bài viết của mình không phải là nói về tôn giáo, mà là một khát vọng tự tìm hiểu, tự khám phá (self-discovery).
Lưu ý rằng bài viết này chỉ để thư giãn với các blogger thân quen và chỉ ‘có giá trị tham khảo’.
*
Trước khi đi vào ‘phiếm thần luận’, LB cũng xin nhắc lại một số thuật ngữ như: vô thường, vô vi, hư vô, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa thực dụng, thuyết phiếm thần…, mà các cháu sinh viên và con của LB bảo là ‘biết chết liền!’, hihi…., 'tạm hiểu' như sau:
-vô thường: các blogger hay dùng từ ‘bốc hơi trong vòng một nốt nhạc’: nó đấy.
-vô vi: ông Lão Tử (hay Trang Tử) thường mang giày rơm, sống một mình ở nơi yên tĩnh, không nhúng tay vào chuyện của thiên hạ: nó đấy.
-hư vô: Trịnh Công Sơn viết ‘Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo’, hay Thanh Tùng viết ‘trả về hư không, giọt nắng bên thềm’: nó đấy.
-chủ nghĩa hiện sinh: Trịnh Công Sơn dẫn ta vào một thế giới ‘cát bụi mệt nhoài’ hay ‘cuộc đời mỏi mệt’, rồi anh ‘xin úp mặt bùi ngùi’: nó đấy. 
-chủ nghĩa thực dụng (đúng hơn nên gọi là ‘chủ nghĩa hiệu quả’!): chắc các bạn đã biết câu ‘Khách hàng là thượng đế’: nó đấy.
-phiếm thần luận: xem chi tiết bên dưới.
Cái gì đơn giản nhất là cái trí tuệ nhất, thực tế hơn lý thuyết đến… 1000 lần, vì vậy các blogger chớ chê mấy dòng giải thích bình dân của LB nghen, hihi…
*
Phiếm thần luận là cái gì? Mệt thật.
LB thường nói chuyện với mấy con thú và cây cỏ như là con người (trích ‘Thư gửi con trai’, entry 84): ‘Con có biết tại sao ba yêu những con cá bơi lội trong hồ, con có biết tại sao trước khi đi công tác, ba thường nói thầm với mấy con cá là:
-‘Ở nhà chơi vui vẻ nghe con, ngoan nhé, đừng buồn nhé’,
hay khi về nhà ba nói với mấy con cá là:
-‘Ở nhà có vui không con, đói không con, tha lỗi cho ba nhé’, hay
-‘Gì mà đòi ăn hoài vậy con? Để tí nữa nhé’.
rồi ba lấy thức ăn bỏ cho cá ăn, đó là vì ba nghĩ đến con’.
Thực ra, nói nôm na, ‘Phiếm thần luận’ hay ‘Thuyết phiếm thần’ là việc các vật (như núi sông, cây cỏ hoa lá…), hoặc là có linh hồn hay có thần do ta ‘ban’ cho chúng, hoặc giả định là nội tại của chúng có ‘linh hồn’, rộng hơn, có người cho rằng tạo hóa là ‘ông trời’ hay là ‘thượng đế’- một đấng sáng tạo kỳ diệu nào đó.
*
LB nói là hôm nay có ‘duyên’ là vì sao?
Đó là việc LB qua nhà anh Phu Đoan, vô tình ‘làm quen’ được ông Trần Kiêm Đoàn với bài viết ‘Trại Vô Thần’. LB thấy rất phấn khởi, vì, thiết nghĩ rằng, mấy thầy mà đi học ở Nga (Liên Xô cũ) về thì nay… hơi bị thiếu thông tin (chẳng hạn về triết Đông hay triết Tây, xem dưới), hơn nữa, việc được tiếp cận với một nhà nghiên cứu triết học biết tốt tiếng Anh (như là người bản xứ) là một điều quý hiếm và quý. 
‘Trại Vô Thần’:
Hiện nay, ở Mỹ và một số quốc gia phát triển khác, nhiều bậc phụ huynh đã gửi con vào các nơi gọi là ‘Trại Vô Thần’ để chúng tự phát triển tư duy độc lập một cách tự nhiên mà không bị nhào nặn bởi các thứ triết lý giáo điều có sẵn. Thiết nghĩ dây là một quan điểm… đúng, vì với cách đào tạo như vậy, các sinh viên ở đây có tư duy triết học rất tốt.
Ví dụ ở Mỹ có Trại Vô Thần (Camp Quest) ở Grass Valley, California, với câu cổ động treo ở cổng trại là: ‘Đừng tin ở Thượng Đế. Hãy tham gia vào Hội’ (Don’t believe in God. Join the Club) và Tôn chỉ (motto) của họ là: ‘Sống tốt hơn, giúp nhiều hơn và tỉnh thức hơn’ (Live better, help often, and wonder more). 
Họ có nhiều giải thích rất hợp lý cho mục đích của ‘Trại Vô Thần’:
-‘Đa số những phụ huynh có con em tham gia Trại Vô Thần đều là những ‘cựu tín đồ’ của các tôn giáo lớn. Họ đều có mẫu số chung rằng là: Họ đã từng bị trói buộc bởi những tín điều hẹp hòi, nửa vời và khắc nghiệt do những người có thế mạnh giáo quyền trong tôn giáo của họ. Những người nầy đã kéo hình tượng và khái niệm cao cả cùng tột của Thượng Đế xuống thấp ngang tầm với lòng tham lam, tính hiếu thắng và khát vọng quyền lực của họ. Người đồng đạo bị áp bức phải ly khai đi tìm một thế giới mới, trái ngược với thế giới cũ đầy tiêu cực của những người núp bóng Thượng Đế và Thần Thánh. Giới phụ huynh muốn thế hệ con cháu của họ sẽ độc lập vươn lên trong tự do. Gởi con cái đến Trại Vô Thần trong thế giới Âu Mỹ đang là một sự thử nghiệm hơn là một sự khẳng định rạch ròi về Thượng Đế và Thần Linh’.
-'Chúng tôi là những người vô thần vì không tin có Thượng Đế. Hiện nay có 60 triệu người trong tổng số 310 triệu người Mỹ không theo tôn giáo nào cả'. 
-‘Nói như Stephen Hawking là không có Nguyên Nhân Đầu Tiên và cũng chẳng có Ai Tự Mình hiện hữu rồi sáng tạo ra muôn loài cả. Tất cả đến từ Không. Tất cả đều do tình cờ hay các điều kiện bột phát tự hợp nhau mà có. Rồi tất cả lại hoàn không. Ha, ha , ha… chúng tôi chọn lối nghĩ Vô Thần là vì thế’.
-‘Zen Master của Nhật Bản, thiền sư Yoka Shitai, có một nhận xét thú vị rằng… Con người không phải là bộ máy chỉ thuần vật chất và cũng chẳng phải là bóng ma để chỉ có tinh thần. Tâm vật tương quan, nên tự quy con người vào một thế cực đoan như duy tâm, duy vật, hữu thần, vô thần…  thường là trò chơi phù phiếm nhằm thỏa mãn sự cố chấp của tri thức, sự vọng tưởng của ngã mạn, hoàn toàn không có thật’…
*
Bài viết của ông Trần Kiêm Đoàn có ít nhiều giúp LB về vấn đề dưới đây:
-Ông Einstein thích ‘Phiếm thần luận’ và ông cho rằng ‘Phật giáo chứa đựng nhân tố mạnh mẽ hơn nhiều của tính tôn giáo vũ trụ’?
-Trước đây, LB có đọc một số tài liệu nói rằng Phật giáo không phải là một tôn giáo, tại vì họ không có ‘Thượng đế’ và ‘mặc khải’?

LB xin trích ra đây vài đoạn có liên quan:
'Hiện nay trên toàn thế giới có khoảng 20 tôn giáo lớn có tín đồ từ 2 tỷ cho đến 1 triệu người và khoảng 350 giáo phái. 
Nhưng nhìn chung, mục đích của tôn giáo nào cũng chỉ có ba điều: 
-Thứ nhất là cần được giải thích để hiểu ai đã tạo ra sự sống và khi chết đi về đâu. 
-Thứ hai là phải sống như thế nào cho hay cho đẹp khi còn sống.
-Thứ ba là có một nơi yên nghỉ an lành sau khi chết.
…‘Phật giáo là một tôn giáo Vô Thần’ - (Atheist Religion), một hình thái ‘tôn giáo’ có tín điều ngược lại với một hệ thống tôn giáo cổ truyển và quen thuộc. Nghĩa là không tin có một Thượng Đế hay một đấng thần thánh nào cả...
…‘Đạo Phật không tin có một vị thần sáng tạo ra muôn loài muôn vật nên cho rằng đạo Phật ‘vô thần’ cũng sai mà ‘hữu thần’ cũng không đúng'.
...Phật giáo là một tôn giáo không theo định nghĩa kiểu phương Tây như thế: ‘Tôn giáo là có đức tin và thờ phụng đấng siêu việt toàn năng như Thượng Đế hay các vị thánh thần’ (It’s the belief in and worship of a superhuman controlling power, esp. a personal God or gods).
…Đạo Phật là một tôn giáo đúng nghĩa vì có một hệ thống lý thuyết cao rộng và thâm sâu làm căn bản; có đức Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ khai sáng; có nếp sinh hoạt tâm linh; có những tổ chức tăng đoàn của giới theo Phật xuất gia và tổ chức đạo tràng của giới tại gia; có nếp tu trì hành đạo.
…Đạo Phật không tin vào khái niệm có một đấng toàn năng siêu việt sáng tạo muôn loài như Thượng Đế… Đạo Phật là một tôn giáo hay phải nói đúng hơn là một ‘siêu tôn giáo’.
*
Quay lại chuyện ‘Phiếm thần luận’ và nhà triết học Spinoza.
Spinoza (Baruch de Spinoza), sinh 1633 và mất 1677, là người Hà Lan (gốc Do Thái), là nhà triết học và vật lý học (quang học), Ông ‘được coi là một trong những nhà duy lý vĩ đại nhất của triết học thế kỷ 17, và là người đã đặt nền móng cho thời kỳ Khai sáng của thế kỷ 18'. Ngoài ra, ông còn được coi là ‘Triết gia tuyệt đối, với cuốn Luân lý học của ông là cuốn sách lỗi lạc nhất về các khái niệm’ (nhận định của triết gia Deleuze, 1990). Ở Hà Lan, ‘Spinoza là một nhân vật lịch sử quan trọng, chân dung của ông được vẽ trên tờ bạc 1000-guilder và Giải thưởng khoa học cao quý nhất của Hà Lan có tên là Spinoza’.
Ông cho rằng Chúa trời - chứ không phải Thượng đế - là thiên nhiên/vũ trụ, và sự bội giáo này làm cho ông bị Cộng đồng Do Thái ‘rút phép thông công’ (cấm tín đồ nghe theo). Chúa trời của ông không có quyền năng sáng tạo ra cái vũ trụ của Newton, mà chỉ là người tác động (lên ‘dây cót’/‘đề-ba’) cho vũ trụ đó vận động theo quy luật, và ‘ngài’ độc lập với/không quyết định đến hành vi hay số phận của con người (mà do ‘cảm xúc’, chứ không phải là lý tính, của họ quyết định). Do đó, học thuyết của ông được gọi là ‘phiếm thần’, mà chữ ‘phiếm’ ở đây như ta thường nghe là chuyện phiếm, phiếm đàm, phù phiếm, 'gót chân mòn trên phiếm du'… với nghĩa nôm na là ‘tác nhân’ hay ‘không có tính chất quyết định’.
*
Tạm hiểu như vậy, LB sẽ có những bài sau chi tiết hơn. LB có vẻ thích quan điểm này, vì:
-LB cũng có một cái gì đó tin vào thượng đế, chẳng hạn ‘ai là người đã sáng tạo nên ‘tương tác âm-dương’ trong vũ trụ, hay ‘tình khúc âm-dương’ trong thế giới động vật/loài người?.
-LB có ngờ ngợ ở chỗ là thượng đế hoàn toàn không can thiệp vào chuyện nội bộ của con người, như Đại chiến thế giới lần thứ 2, Vụ động đất sóng thần ở Nhật Bản, Cơn bão số 10 ở Việt Nam, hay Chiến tranh Mỹ-Syria (nếu có),
-LB cũng cảm thấy rằng con người có những quán tính truyền kiếp (ví dụ như lòng tham, tính háo danh... mà ông Dale Carnegie gọi là 'thị dục huyễn ngã') mà không có cách nào chống lại được!…
Phải chăng thượng đế là thế giới tự nhiên/vũ trụ với các quy luật vận động của nó và hoàn toàn không can thiệp vào số phận của con người?
HẾT.
---------------
Phụ lục:
Các tài liệu có liên quan
‘Trần Kiêm Đoàn và Trại vô thần’:
http://yume.vn/thaydo09/article/trai-vo-than-tran-kiem-doan.35DFFE96.html 
www.Trankiemdoan.net 
‘Triết Tây’: http://nhagomlabang.blogspot.com/2013/10/460-trai-at-van-quay-cuong-trong-vu-tru.html
‘Trịnh Công Sơn’: http://nhagomlabang.blogspot.com/2012/09/242-may-dong-ve-trinh-cong-son.html